Chiều Đến Krakow

Cuối tuần vào mùa hè tháng Sáu, trời nóng oi ả, tôi xách Adam lên bus đến Krakow. Đấy cũng là tuyến đường bus đầu tiên đi thẳng từ Brno đến Krakow qua Ostrava của hãng Student Agency, có cả đài truyền hình và phóng viên đưa tin trên chặng đường dài 7 tiếng.

Quăng đồ về khách sạn, chúng tôi băng qua Planty Park tìm đường đi đến Main Market Square trong Old Town để hội ngộ với nhóm bạn người Đức. Tầm đấy đã muộn về chiều, người bản địa và du khách đông như mắc cửi. Giữa quảng trường, ông thị trưởng nối một cái vòi phun nước công cộng bắn xối xả vào cái nắng kinh người. Người lớn, trẻ nhỏ, thanh niên đều nô nức ùa vào cái bãi nước “thiên nhiên” bật ra từ vòi cứu hỏa đấy. Họ trình diễn cả một màn nhạc nước tự do.

Krakow, Poland by Trang Hoang on 500px.com

Chúng tôi quyết định ngồi lại nghịch nước rồi ngắm Krakow. Quảng trường đông nghịt người nhưng không có cái dáng vẻ xô bồ, ồ ạt như thành thị công nghiệp. Các sạp hàng rong bán đủ màu sắc cho dân du lịch xếp hàng thẳng tắp hai bên quảng trường. Một dàn nhạc orchestra nho nhỏ đặt ở khu trung tâm réo rắt suốt mấy giờ đồng hồ không nghỉ. Ngay cả khi chúng tôi đã chén sạch một đĩa sườn heo, giò heo, xúc xích Ba Lan, sườn bò, BBQ to bự nổi danh là đặc sản của Krakow và uống cạn hai ly bia hơi rõ lớn, nhạc vẫn còn lung linh trong ánh chiều tà và tiếng người thì không buồn dứt.

Krakow, Poland by Trang Hoang on 500px.com

Về đêm, chúng tôi quyết định tìm đến pub nổi tiếng nhất Krakow mà mọi du khách đều mạnh tay vote năm sao. Lúc tìm được Wodka bên cạnh một công trình đang dang dở, chúng tôi khá e dè khi phải bước vào không gian nhỏ xíu nóng nực bực cả người. Thế nhưng nó không lãng phí thời giờ của chúng tôi chút nào. Leo lên căn gác nhỏ chỉ đủ một bàn tròn, năm người chúng tôi quây quần gọi một set vodka bảy vị. Vodka nằm trong bảy shot nhỏ xếp trên một khay gỗ nằm ngang, lần lượt có mùi đào, chuối, tiêu đen, ớt, xoài, bưởi, bạc hà. Ta nói chứ, cái nào ngon thì ngon dễ sợ, cái nào dở thì… phải nhớ đến suốt đời. Chính là cái mùi tiêu đen với ớt xay sặc dập mũi. Thử hết cả khay rượu, chúng tôi đi xuống, anh phục vụ còn nhiệt tình cho xem cách pha khung chín ly. Cái khung hình vuông mỗi hàng ba cọc. Còn có cả khung 12, 15, 18 ly cho những hội “chịu chơi hơn”. Nhưng thôi, chúng tôi không định chơi say bí tỷ. Lúc uống vodka, tôi với Adam nhìn nhau trộm nghĩ, phải chi có bọn Vasek với Nikolai ở đây (chúng tôi hay chọc là hai đứa “Nga ngố”), có ai hơn được chúng khoản uống vodka như nước lã đâu chứ.

Bước ra ngoài đã hơn tám giờ tối, cả đám quyết định đi dạo về phía quảng trường, ngồi dưới chân tượng… nghe nhạc dạo. Cả bầu trời tối đen như mực, trước mắt chúng tôi là dãy cửa hiệu ba tầng của các thương hiệu thời trang nổi tiếng như H&M, Lindex, Gina Tricot, etc. đèn điện bật sáng trưng kể cả khi đã đóng cửa. Theo như tôi biết thì các cửa hiệu như vầy đều có policy phải mở điện cả đêm, không được tắt. Từ góc nhìn của mình, trông chúng lung linh như những căn nhà búp bê phóng đại đặt trên một cái nền tối, trên nền là những vì sao và vệ tinh lấp lánh, phía dưới là một chàng nghệ sĩ đang busking với một dàn loa và âm ly được đầu tư kỹ lưỡng. Tôi nghĩ chắc anh chàng này phải là nghệ sĩ hoặc YouTuber nổi tiếng nào đó mà mình không biết tên. Chàng hát giữa những người bán dạo (họ là những người da đen hiền lành nhiều chiêu trò mà bạn không nên thách thức), thỉnh thoảng lại có một vài con xoay xanh đỏ bắn véo lên trời, không gian náo nhiệt rộn ràng, người đi qua ai cũng ngừng chân ngồi lại hóng gió và thưởng thức sự dễ chịu của màn đêm. Chàng hát nghêu ngao suốt mấy tiếng liền, thỉnh thoảng dừng đấy nghỉ ngơi nói chuyện chọc cười cho khán giả. Đến mười giờ đêm, người thưa thớt dần, chúng tôi về khách sạn nghỉ ngơi thì phát hiện ra mình chung phòng với một nhóm bạn trẻ Tây Ban Nha “hoạt bát”. Cho đến khi lả đi vì mệt, đầu tôi vẫn lâng lâng bài ca cuối cùng trong đêm của Jason Maraz.

“I can’t walk through life facing backwards
I have tried
I tried more than once to just make sure
And I was denied the future I’d been searching for
But I spun around and hurt no more
By living in the moment
Living my life
Easy and breezy
With peace in my mind
I got peace in my heart
Got peace in my soul
Wherever I’m going, I’m already home

I’m living in the moment
I’m living my life
Just taking it easy”

Sáng thứ Bảy, chia tay những người bạn Đức, hai chúng tôi thực hiện một lộ trình ngu ngốc: đi dạo quận Jewish dưới cái nắng trời chê. Cái nóng của Krakow vào tháng Sáu thật không thể đùa. Sau một ngày đồng hành dưới cái nóng 42 độ, tôi với Adam nổi cáu với nhau. Cái nóng mùa hè thực đã biến tôi thành một con ngố giữa lòng thành phố. Nhưng anh bạn thân của tôi vẫn là quý ông lịch lãm mặc quần cộc nhịn tôi cái tính sớm nắng chiều mưa đêm may ra được nghỉ (chưa kể với bạn, Adam là một trong hội bảy người rất thân thuộc Kuusi gang mà tôi đã kể trong chuyện trước). Trước bữa trưa, chúng tôi đi qua một tiệm ảnh trắng đen nằm khiêm tốn trong khu Jewish District (Kazimierz). Cậu chàng dẫn tôi vào xem hơi thở của Krakow ngày xưa để xua đi cái nóng mùa hè. Khi bước ra trên tay tôi đã cầm theo hai tấm ảnh Krakow trắng đen xưa cũ. Cơn cáu bẳn đã biến đi đâu, một phần cũng nhờ ly kem bơ và tiệm bánh home-made mà chúng tôi phát hiện gần đấy. Khi nào có dịp tôi sẽ chụp bạn xem gái Krakow thời xưa đủng đỉnh nhường nào.

Krakow, Poland by Trang Hoang on 500px.com

Buổi sáng Chủ nhật trước khi quay về Brno, tôi nằng nặc đòi quay lại Church of the Virgin Mary (Kosciol Mariacki), quyết phải ngồi trên băng ghế ngắm kiến trúc nhà thờ cho bằng được. Nghe đâu là nhà thờ đẹp nhất Krakow mà tôi thì chết mê chết mệt kiến trúc của các nhà thờ cổ (tôi không theo đạo, chỉ là sở thích từ bé mà thôi). Tuy nhiên hai lần ghé đến tôi chẳng được vào ngồi lần nào. Chiều hôm trước thì đóng cửa, sáng hôm sau thì… tôi được dự đám cưới của người lạ. Đấy cũng coi như là hôn lễ đầu tiên tôi được chứng kiến ở thờ. Do mặc quần sooc ngắn sợ thiếu trang nghiêm, tôi quấn chiếc khăn quàng chẳng liên quan đến set đồ bước vào đứng dưới cuối. Adam ngó vào bên trong, lắc đầu, rồi lặng lẽ lách người đi ra. Tôi yêu mọi cái khung trần trên các nhà thờ cổ, chứ chẳng riêng gì Kosciol Mariacki ở Krakow. Mà hiển nhiên là nó đẹp thiệt, đẹp rực rỡ.

Vậy là chúng tôi kết thúc hai ngày cuối tuần ở Krakow, vẫn chưa kịp đi xem mỏ muối Wieliczka Salt Mine ở bên ngoài thành phố, nhưng đã kịp chui xuống lòng đất Krakow xem Cracow Historical Museum (Old Market Underground) để tránh cái nóng, dành cả buổi chiều thứ Bảy để dạo bộ trong Wawel Royal Castle nhưng không kịp vào xem Wawel Cathedral nổi tiếng. Nội buổi chiều hôm đó tôi đã nốc sạch nửa cốc bia dở tệ bên đường và nước tăng lực để chống lại cái oi ả mệt mỏi của Krakow tháng Sáu. Adam uống một cốc cà phê, chạy sau tôi gào thét, “Đáng lẽ mày không nên uống nước tăng lực. Gần hết cả ngày mà vẫn như con tăng động thế kia.” 

Krakow, Poland by Trang Hoang on 500px.com

Krakow, Poland by Trang Hoang on 500px.com

Chuyến đi đến Krakow của tôi vẫn chưa trọn vẹn. Trước khi đi, papino (anh bạn người Ý exchange ở Brno) có dặn là phải ăn vịt quay ở nhà hàng dưới chân Cung điện Hoàng gia Wawel (có một chục nhà hàng nằm dưới đó) và ly kem ngon không thể chê ở đâu đó trong thành phố. Nhưng bù lại, buổi chiều ngồi ngắm dòng người qua lại ở Quảng trường, tôi bắt được một tấm hình của mấy cậu nhóc nhỏ đang feed bồ câu, một bà lão lọm khọm rải bánh mỳ cạnh cái hồ bọn bồ câu chụm lại. Chúng di chuyển thành từng dòng đen trắng náo nhiệt cả sân đường. Adam bảo, “Nếu mà ở Việt Nam thì chắc chúng thành cháo món bồ câu rồi ấy nhỉ.”

Tôi: “…”

Yêu Đến Paris

Tôi đến Paris cùng em gái vào tháng Tám năm ngoái. Bỏ qua các địa điểm du lịch nổi tiếng, những câu chuyện ai cũng kể khi đến Paris mà bạn có thể Google; để tôi kể bạn nghe về Paris của mình.

Khi máy bay gần đáp Charles de Gaulle Airport, hai bác gái ngồi hàng ghế trên mải mê giải sudoku, chị gái mặc hoodie đen nghiêng người nhìn về phía hoàng hôn, dưới chân chúng tôi là con rắn Seine bạc mập mạp. Khi tôi đứng dậy, bác gái phía trên đã hoàn thành tờ giấy của mình bằng việc… tô đen các ô vuông thành hình con cá sấu.

Vừa đặt chân xuống thành phố, tôi ngửi thấy ngay cái cảm giác đó, ‘Love’s in the air, all of the city’.

Paris là để đến với người yêu.

2

Chuyến metro mười giờ về quận Tư chỉ có người làm về trễ, người da trắng, da đen, da màu và hiếm hoi một vài người Châu Á. Tàu trông rất cũ, ghế ngồi đen thui đã bạc sởn phần da trong, điện đèn lui thui chớp tắt. Đi được một lúc, tàu dừng giữa hầm tối, điện xẹt ngang xẹt dọc, nhiệt độ nóng chảy mồ hôi, cửa sổ đen thui mở toang trơ từng bó dây điện. Tôi với em gái sợ điếng người, không lẽ… đây là tàu ma?

Những ngày ở Paris có nhiều điều thú vị. Tôi đứng xếp hàng vào bảo tàng Louvre, leo tháp Eiffel, lần theo bước chân của Ernest Hemingway ở rue Cardinale Lemoine in 5th arrondissement (đường Cardinale Lemoine ở quận 5), nghịch cái máy đánh chữ cũ kỹ ở Shakespeare & Company, chụp hình cho em gái ở vườn Jardin du Luxembourg, xông xáo đến Disneyland Paris đi hết 5 chuyến tàu siêu tốc (Lời khuyên: Hãy đi Disneyland vào những ngày đầu khi vừa đặt chân xuống đất – trước khi bản thân bị ‘sự tinh tế ở từng ngóc ngách Paris’ làm cho kiệt quệ), ăn món Việt ở quận 13 và ‘gà bia’ KFC trong ‘the Odd Paris’ cũ kỹ – cái tên tôi đặt cho nhà Airbnb của mình. Cuối ngày, chúng tôi đắp áo khoác lên chân, ngắm Paris lên đèn cạnh chân tháp Eiffel khi các cặp tình nhân cùng cụng bia ăn snack. Khi cả tòa sắt “trở nóng” (đèn vàng chuyển sang màu đỏ), họ trao nhau một nụ hôn kiểu Pháp nồng nàn. Lúc đó tôi đã nghĩ, ngồi cạnh tôi mà là một anh chàng người Pháp điển trai, tôi cũng quay sang hôn chụt một cái không chừng.

Khi ngồi chờ Eiffel lên đèn, tôi nhớ đến một vài giai điệu của Pink Martini – một ban nhạc Mỹ mang linh hồn của Pháp. Pink Martini có cùng tuổi với tôi, ra đời vào năm 1994 bởi một chính trị gia, Thomas Lauderdale. Ông lập this ‘little orchestra’ để làm… thiện nguyện. Duyên cớ làm sao, âm nhạc của Pink Martini vượt ra bên ngoài biên giới Oregon. Tôi đã nghĩ, nếu được nghe “La soledad” dưới ánh đèn Paris mình sẽ vô cùng hạnh phúc.

Hè 2016 ở Paris là một mùa hè bạo loạn. Những cái chết ở Nice khiến tôi khắc khoải không yên, lòng dạ thì bồn chồn khi nhìn thấy những người da đen túm năm tụm ba trên tàu điện. Họ nhìn nhau bằng ánh mắt soi mói và nhìn người ngoài bằng cái nhìn không mấy thiện tâm. Tôi khó chịu với cái mùi ngai ngái dưới những phố tù metro đông đúc, những buổi đêm muộn trời, họ lật ra sự nghèo đói của Paris.

Nếu có nhìn thấy một người say nói quàng với chai rượu rẻ tiền, hay một gia đình nằm gọn trên một băng ghế chờ thì hãy nhanh chóng bước qua. Đừng đưa cho họ những ánh nhìn thương hại. Vì Paris họ rất kiêu kỳ.

3

4

5
Hành trình đến Paris vào mùa hè bạo động. Chúng tôi may mắn trở lại bình an.

Chuyến bay về Helsinki bị delay hơn hai tiếng. Tôi bắt một cước Uber về nhà, vừa ngả đầu xuống gối răng liền âm ỉ đau. Đau cả bình minh đến tận sáng. Tôi phải lủi thủi đi nha sĩ một mình. Ở với bé út mấy ngày rồi về lại căn phòng một người, ruột gan bỗng có chút tủi thân. Tôi nhớ Paris và những ngày chân đi không mỏi.

_mg_1495
“Hoa hậu nhà mình”

Nói có thể bạn không tin, nhưng năm ngày ở Paris chúng tôi chưa từng thử một giọt rượu vang đỏ, cheese, bánh mỳ baguette hay món ốc sên khai vị L’Escargot nổi tiếng. Tôi đã tự bảo mình nhất định phải làm một bữa, nhưng sẽ thật vô vị nếu không có người sành sỏi dẫn đi ăn và kể tôi nghe vài chuyện chỉ người bản xứ mới tỏ. Thôi để lần sau đi, khi tôi gặp lại anh bạn người Pháp rất galant lúc trao đổi ở Brno. Hy vọng bạn đừng có lại xách balo đi Porto lúc đó.

Cái Lãng Mạn Chết Ngất Ở Brno

Brno là thành phố lớn thứ hai ở Czech, từng là một thủ đô cũ của vùng đất Moravia, nay thuộc Cộng hòa Séc. Những khu nhà trên đường phố nằm kề nhau trên những ngóc ngách cổ, nửa hiện đại nửa xa xưa. Nếu so Prague với cô nàng Lọ Lem hạnh phúc bên hoàng tử, thì Brno là cô bé bán diêm lạnh cóng ở góc đường. Brno không đẹp. So với Prague hay láng giềng Budapest, Brno giống như một thành phố không tên không tuổi, không cần được ghi nhớ cũng chẳng cần phải nhớ đến ai. Ờ, để làm thân với Brno cần lắm một đống thời gian để ngỏ.

Đó là tư vị của Brno.

Trang phát hiện ra mình đang bị Brno dầm dề quyến rũ. Không lặng lẽ như Tallinn, không trầm mặc như Kouvola (“được” lũ bạn Phần tôi gặp ở đây mệnh danh là ngôi làng “bình yên” nhất quả Đất,) không cổ kính như Budapest hay khiến người ta ngây nhất như Krakow (hay gái đẹp Ba Lan), không độc đáo và mạnh mẽ như Berlin, càng không thể đem ra so sánh với thủ đô Praha đồ sộ, tóm lại là Brno chẳng có cái gì để ngưỡng mộ. Chỉ có mỗi bầu trời trong xanh, nắng cao cao và cái nóng cận kề nhưng chưa đến độ, những gần hè lười biếng lăn lộn trong phòng cô nàng hàng xóm, chẳng để làm gì ngoài việc cười vào mặt nhau khi Lu hay Trang thông báo, “Hôm nay là depression (Mon)day của tao.” Đó là sự quyến rũ chậm chạp nhàn nhạt, thậm chí Trang có chút nghi ngờ nếu người ta có thể miêu tả sự quyến rũ bằng tính từ “nhàn nhạt,” nhưng là Brno đang chậm chạp quyến rũ Trang và mấy đứa thân thân. Đó là sự hào hứng nhìn bầu trời xanh ngắt khi tỉnh giấc, đánh răng rửa mặt, sà vào bàn làm việc học hành và lên kế hoạch, giữa chừng đói bụng giải quyết bằng fastfood trong tủ lạnh hoặc kéo anh bạn thân đến canteen ăn bữa trưa. Buổi chiều mệt mỏi thì đi dạo siêu thị mua đồ ăn, hoặc giải tỏa căng thẳng bằng việc băng qua đường vắng xe – mặc dù cái lằn sang đường cách đúng một mét. Trang chưa thấy thành phố nào xe cộ khiêm tốn như Brno, nhưng tuyệt đối phải thán phục mạng lưới phương tiện công cộng ở nơi đây, cũng là lý do mà Trang chưa bao giờ phớt lờ thôi thúc “phải ra ngoài vào ngày đẹp trời” của bản thân đến thế.

Còn nhớ ngày đầu tiên nhận phòng trong ký túc xá, cả người Trang chỉ toát lên cảm giác: khó chịu, khó chịu, cực kỳ khó chịu. Mặc dù đã chuẩn bị tâm thái “chẳng nơi đâu tiện nghi hơn căn phòng nhỏ trong căn hộ ba người ở Phần hay ngôi nhà có mẹ,” Trang vẫn bị hậu quả của jet lag bồi thêm hai chuyến say xe làm cho bức bối.

Lúc làm thủ tục check-in, bác gái quầy tiếp tân lạnh nhạt thông báo bằng tiếng Séc, cuối tuần tạm thời không có internet, đồng nghĩa với việc bảo Trang nằm dầm dề buồn chán trong phòng cho đến khi được cập nhật với thế giới – đứng hình tập 1.

Phòng đôi dành cho hai người ở diện tích xấp xỉ 20 mét vuông, bớt khó chịu vì có mỗi mình Trang ở, phòng tắm và toilet dùng chung với hai người khác (nếu như cái bạn sắp đến ngày mai có roommate) – khó chịu 2.

Phòng tắm được che đơn sơ bằng một tấm rèm nhựa theo phong cách đô thị Việt Nam từ 15 năm trước – khó chịu 3.

Mùi đồ gỗ trong phòng còn tồi tệ hơn cả mùi ô tô, xộc thẳng vào đầu Trang đánh boong boong không thương tiếc – khó chịu 4.

Nghĩ đến thang máy chỉ đi đến tầng 11, phải leo bộ đến tầng 12 mà bị “giấu” cho đến lúc nhận phòng mới biết – cực kỳ bực bội 5.

Lại nghĩ Adam giúp mình xách cái túi thể thao con con, Anezka giúp mình xách cái vali con nặng nặng – lại thôi, không bực bội nữa. Quay ra cười hề hề với hai đứa rồi lâm vào trận chiến căng não chọn giường, chọn bàn, chọn tủ, (tuy nhiên sau này tất cả đều là của Trang vì roommate không đến,) chọn địa điểm mua sắm ngày hôm sau. Lúc đó Trang còn vụng trộm than thở với lòng, “Làm sao mà tôi sống cho qua năm tháng đơn sơ buốt giá…”

Bây giờ ngồi đây nghĩ lại ngày đó, mấy câu than thở đó, tự nhiên lại không nỡ rời đi, lại thì thầm than thở, “Làm sao mà tôi sống cho qua những tháng ngày nhạt nhẽo ở Kouvola…” Rồi lại thầm nghĩ, một năm sau nếu mà có rời Phần về nhà với mẹ, hẳn là bụng lại bảo dạ, “Làm sao để bảo đảm an toàn tính mạng khi lưu thông trên đường bộ…?”

Tallinn và Những Ngày Hò Hẹn

Ngày thứ hai sau khi chuyển nhà đến Tallinn, Trang nhận ra hôm qua Tallinn đã rất ưu ái mình bằng một bầu trời đầy nắng và gió.

Đây câu chuyện ngày thứ nhất.

Chuyện 1 ở Tallinn

Căn hộ mới khá hiện đại và tiện nghi, nằm trong một tòa nhà có vẻ ngoài khá cũ kỹ; đi dọc cầu thang là những cánh cửa khác màu và khác cả chất liệu nằm cạnh nhau, lệch lạc đến nỗi không ai nghĩ chúng nó là hàng xóm. Nếu tòa nhà này mà có thang máy, chắc Trang sẽ không suy nghĩ về học thuyết thiếu cân đối của những cánh cửa và tác dụng của chúng. À đấy, không có thang máy, và căn hộ số 15 thì nằm ở tầng thứ tư, hoàn hảo cho một ngày xách hai túi thức ăn nặng trịch sau giờ làm việc, cộng thêm chút gió, tuyết, và vài lần răng đánh vào nhau lập cập.

Quay lại ngày đầu tiên mình và vali đỏ nặng bằng một đứa trẻ 12 tuổi đến Tallinn. Nắng, gió, bầu trời đẹp, và mọi thứ như đã luyên thuyên vào ngày hôm qua chính là điều tuyệt vời nhất mình có thể chờ đợi (hay bất kỳ một thành phố nào khác sau chuyến đi bất kể ngắn dài nhưng có mệt mỏi), hoặc là do câu chuyện tip cho anh taxi của con bé Vũ mà mình cũng tip luôn cho bác tài xế taxi đen, cám ơn bác đã rất nhiệt tình với cái vali nặng trịch của cháu. Bác tài dừng xe ở Pronksi 4, Pronksi 2 nằm ngay kế bên, trên một đại lộ thoáng đãng và một con đường dành cho người đi bộ xanh rợp bóng cây. Và mình đã như kiểu: “Tuyệt, mình ở trên một con đường lớn. Kouvola hay Lahti đều chỉ có những rừng cây và một con đường đủ cho 2 chiếc bus.” Đại lộ đủ rộng rãi cho 4 cái bus thi nhau đi song song đấy nhé.

Trước khi đi bác tài xế taxi còn nhiệt tình bê hẳn cái vali lên vỉa hè cho mình và khuyến mãi hẳn một nụ cười rõ rực rỡ. Có lẽ ít khi bác gặp được một con bé excited Asian khổ sở vật vã đến tóc tai cũng chẳng buồn vuốt mà miệng thì cứ tủm tỉm cười. Rồi thì mình kéo vali đi 20m đến trước cửa Pronksi 2, bức tường xám trơn và trông có vẻ già cỗi. Thế mà nó hoàn hảo để tôn vinh cánh cửa đỏ chót nặng trịch thường thấy ở các bốt điện thoại công cộng của Luân Đôn. Mình nghĩ, ờ, mình phải gọi cho chủ nhà xuống mở cửa.

Một phụ nữ tóc vàng tầm 30 xuất hiện, kiểu “ta đã expect mày rất lâu, nhìn thấy mày lặn lội từ đó (Fin) sang đây (Tallinn) ta thấy thương quá.” Rồi cô nhẹ nhàng hỏi, “mày mang mỗi cái vali đó thôi hả? Vậy tuyệt, vì chúng ta không có thang máy đâu.” Cô rất tỉnh, và Trang đã kiểu như, “WTF, tôi biết làm gì với mùa đông và những túi thức ăn?” Chuông tin nhắn của mình còn văng vẳng: “Trang ơi, thể dục! Trang ơi, thể dục!” as mom wish. Ờ thì, đời không dài, nhưng đủ để YOLO. Kết thúc màn trò chuyện, hai cô cháu lạch bạch leo cầu thang với bé vali không biết đi nhưng nặng bằng con bé 12 tuổi của mình, cộng một hai lần nghỉ giữa đường để cô nghe điện thoại, tui lần đầu gặp mặt căn hộ mới của mình khi dừng lại trước cánh cửa màu nâu không có số (ngoại trừ miếng dán đỏ chũ trắng nổi bật dòng SECURITY). Con bé chính xác là thể loại chắc chắn và đẹp đẽ nhất trong số những cái cửa sắt xám xịt, cửa gỗ mô phỏng phòng sauna, cửa sắt xám nhạt kiểu hầm trú dưới lòng đất… Ok, và cô tóc vàng tủm tỉm bảo rằng, nhà mày đây, phòng số 15.

Cô lạch tạch mở khóa, mình lạch bạch kéo vali, và đập vào mắt là một đường hầm tí hon dán giấy tường màu nâu sẫm, phòng khách được hai cái cửa sổ lớn rọi nắng sáng trưng, như kiểu cuối đường hầm là ánh sáng hy vọng trong mấy bộ phim viễn tưởng về thiên đường, Chúa trời, hay một vài tiểu thuyết tương tự. Vậy là y như rằng, Trang lại lâng lâng một cảm giác tuyệt vời như cái hồi vừa đặt chân xuống Kouvola vừa nghe nắng hát (mà thực ra là một ban nhạc ngoài trời biểu diễn cạnh quán cafe Columbia. Họ chơi country nhé, tuyệt vời cho một quãng đường sau chuyến bay hơn 10 tiếng nhé :3)

Tiếp tục với căn nhà, mình gặp một chị người Phần học MBA ở Đan Mạch, chị ý ở một mình trong căn phòng 1 giường đôi kế bên. Vậy là chiều hôm đó hai đứa thủ thỉ dắt nhau đi dạo phố, đi tìm đường đến công ty, đi chợ (oh Thank God, cái siêu thị Rimi chỉ cách nhà mình có 300m). Tuyệt vời hơn là mình phát hiện ra một “Mình” phiên bản Châu Âu khác, vd như chị 25 và có cùng quan điểm về việc nấu nướng với mình, có cùng tiêu chuẩn lựa chọn bạn trai (chị đã kể là tất cả bạn trai trước của chị đều chăm sóc chị, mà chăm sóc chính là những bữa ăn ngon miệng :3). Tóm lại, hai đứa kết luận là có ai đó để nấu thì mới nấu ăn, nếu ăn một mình thì chị salad, em mỳ tôm hoặc vài thứ linh tinh (như kẹo chocolate nhân rượu mà Trang tình cờ mua được ở trên tàu Gabriella).

Và thì bữa tối của hai đứa kết thúc bằng món gà rán 60p trên chảo, khoai tây, cà rốt, và bí ngòi chiên. Đáng lẽ phải là món gà nướng và có thể ăn trong vòng 30p, những chỉ vì không đứa nào bật được cái oven chạy bằng gas và thì chị chỉ mới đến đây có 2 ngày, 1 ngày ra ngoài ăn tối và 1 ngày salad trừ bữa. Hai đứa vặn vẹo lên xuống rồi gọi điện cầu cứu bác chủ nhà, nhưng mà bác ý đang ở Úc và ngủ say sưa sau bữa tối ngon lành, nên 2 đứa đành vừa cụng bia vừa chiên gà trên chảo và thấp thỏm hy vọng máu gà sẽ không chảy ra khi cắt miếng đầu tiên…

Sep 1-4
Khung cửa sổ trong căn phòng nhỏ

Lần đầu đến Tallinn

Có một quán ăn nhỏ nép mình khiêm tốn dưới chân nhà thờ lớn. Tôi bị hấp dẫn bởi cái mùi vị quá đỗi xa xưa. Cái quán xuất hiện giữa một khu phố cổ, trong quán người ra vào chật ních, quán tối om, cả sáng lẫn tối đều thắp lên vài ba cây nến. Khi mới bước vào chỉ thấy ánh nến lập lòe, tối đến chói mắt. Sàn nhà lõm bõm nước chẳng biết từ đâu ra, tôi nghĩ có lẽ do khách tha cái mũi sắp rụng vì mùi súp vào quán, đã vô tình tha luôn tuyết kẹt dưới đế giày. Nói bẩn thì không bẩn, nhưng sạch thì cũng chẳng thể bảo tinh tươm.

Hay là cứ ví như, người ta mang cái quán từ thời Viking trở về hiện đại, từ cái tô húp súp cho đến cái ghế cái bàn, cái muỗng cái lò hay cái nền trũng nước. Nhưng không ai có thể cưỡng lại được cái hương thơm mằn mặn của chén súp thịt, đặc biệt đến cả cái chén đựng mùi thơm. Cái chén đựng súp ấy giống như cái bình bông bằng gạch nung đỏ làm từ đất sét mà ra, thô sơ đến nỗi mấy người thợ gốm cũng chẵng buồn trang trí hoa hòe hay ít ra cũng nặn cho hai bên đối xứng. Nhưng súp sẽ chẳng ngon nếu chẳng được húp từ mấy cái tô đất sét ấy đâu, hay thiếu mất ánh nến trong cái không gian tối thui không một bóng đèn ấy nữa. Hay có thể là thời này người ta đầy đủ quá rồi, đôi khi khuyết đi một chút lại cảm thấy thích thú lạ kỳ.

Còn phải nhắc đến bánh mì, bánh mì to một bàn tay rưỡi, có nhân bắp cải, cà rốt, thịt bò, nhân táo, bánh sừng bò… Nhân táo có vị ngọt ngọt chua chua, tôi thì thích nhất là vị ngọt tự nhiên của bắp cải trong bánh. Mấy bạn tôi bảo nhân táo ngon nhất, nhưng cái vị ngọt của bắp cải tan ra trong miệng khi cắn vào miếng bánh giòn giòn lại không khiến cái lưỡi ngả nghiêng ngây ngất đấy sao!

Tôi đến quán đó hai lần. Buổi tối đầu tiên họ cho chúng tôi muỗng ăn súp. Buổi sáng hôm sau, tất cả khách mua hàng đều phải húp từ tô. Chị bán hàng ấy nói: “Nếu muốn dùng muỗng thì hãy tự mang theo, dắt nó vào thắt lưng hay bất kì đâu trên cơ thể, như tôi đây này (rồi cô ấy rút từ trong người ra một cái muỗng gỗ). Còn nếu không hãy húp từ tô như những kẻ thô lỗ cộc cằn từ thời Viking ấy!” Trong khi ấy tôi liếc nhìn lọ muỗng kế bên cô, bật cười vô thức. Nhưng sự thực là, “ăn lông ở lỗ” cũng có cái hay, ngon hơn hẳn cái đêm tôi ăn bằng muỗng. Thậm chí tôi đã húp hết cả tô, chẳng cần nể nang yêu kiều thục nữ!

Về đến Phần Lan, nhớ về cái quán “thô lỗ cộc cằn có mùi súp thơm rụng mũi” đó, tôi mới nhớ cái tên đã bị tôi vô thức xóa mất đi – Draakon Ill.

Estonia đêm thứ hai, tôi tìm đến một quán cà phê khuất trong phố nhỏ, Maldelin. Trời đổ mưa, quán thì đóng cửa. Trước mặt chỉ có bậc thang dài dẫn lên nhà thờ cổ. Lúc tôi đứng nhìn người qua lại rất đông, đến khi tôi bước chân lên, chẳng còn ai đi ngang qua trên phố.

Một người đàn ông ngồi bên đường, phía trước là nhà thờ, người ra vào tấp nập. Trời đổ mưa, tuyết tan khiến đường trơn trượt. Ông ngồi trong vỉa hè, bao đàn đặt trước mặt. Không cần biết có người đi qua hay không, tay đàn ông vẫn đều đặn gảy. Tôi thả vào bao đàn hai đồng xu tôi có, rồi cơn mưa khiến chân tôi lỡ bước, tôi đi.

Khuất sau ngã rẽ, con dốc cũng xuôi dần chếnh choáng, tiếng đàn vẫn văng vẳng bên tai. Tôi hiếu kì, ngạc nhiên nép mình góc tường cuối phố, nơi ông không thể nhìn thấy có kẻ đang lưu luyến tiếng đàn. Mà cho dù tôi có đứng đấy hay không, ông chắc cũng không mảy may để ý. Tôi cứ nghĩ, thả vào đó một vài đồng xu lẻ rồi đi, cho đến khi con phố vắng người, khúc nhạc tiếng đàn cũng vô tình dừng lại. Tôi cứ nghĩ, ông với những người bán buôn cũng lạnh lùng như mùa đông trong phố cổ.

Tôi co ro trong cái lạnh. Dây đàn rung rung, mưa rung rung, lòng tôi cũng rung rung. Đêm đã tối trời, người ra vào nhà thờ cũng thưa thớt, tiếng nhạc cứ đung đưa,

du dương,

đung đưa,

như chưa bao giờ dừng lại.

Rêu phong bám trên tường đá cổ, băng tan, đàn chảy,

Tiếng đàn hết rơi, chân tôi đưa bước.

Lòng cứ mãi luyến lưu.

Mười hai giờ. Tôi bắt gặp màn đêm của bầu trời mà bao lần tôi phải tìm từ để tả. Chỉ là chưa bao giờ tôi tả được bầu trời để lòng vừa ý. Dường như từ ngữ nó hữu hạn vô cùng, đôi khi cứ nhất định phải dùng mắt để nhìn, tận mắt thấy bầu trời mà tôi tin rằng chỉ có trong cổ tích. Phải tự mình đứng trong ánh sáng của đèn vàng, nhìn thấy vầng trăng trắng lóa giữa nền trời thơ mộng. Với cái chóp hay tháp chuông nhà thờ trong những câu chuyện của Andersen, có Lọ Lem đang chuẩn bị chạy ra với phép màu sắp biến mất. Ở giữa cái làng cổ của Tallinn, cây Noel kiêu hãnh vươn mình với hàng ngàn lời cầu nguyện (thật ra những lời nguyện chỉ nặng trĩu khoảng cành cây thứ năm thứ sáu trở xuống mà thôi, vì cái cây thì cao mà người thì quá thấp), dưới ánh trăng vàng, và nhà thờ cổ, giữa những sạp hàng đã đi vào giấc ngủ, những căn nhà gỗ quây một vòng bao lấy cây thông lớn. Buổi sáng trời còn đổ nước, tuyết tan lầy lội hết con đường lót đá tổ ong. Màn đêm về tuyết đã phủ đông, băng sáng lấp lánh trên dây đèn chăng khắp lối. Bốn bề im phăng phắc, nhưng vô cùng ấm áp đón Giáng Sinh. Tôi đã có thể đứng đấy cả đêm, chờ bình minh ló dạng. Nhưng cái lạnh đến rất nhanh, đến khi nhận ra thì mũi đã cứng đơ, tôi trở về khách sạn.

Chúng tôi bỏ Tallinn để về với rừng cây trước nhà ở Phần Lan. Cơ mà mỗi lần nhìn lại tấm hình mình chụp (chụp bằng điện thoại nên lên máy tính không đẹp như tôi nghĩ, nhưng tôi vốn tin tưởng đôi mắt mình, chỉ cầnnhìn đã nhớ rất kĩ, điẹn thoại chỉ là gợi ý mà thôi. Cơ bản là cũng có nhiều hụt hẩng), lòng lại lâng lâng, lại bâng quơ, lại không kìm được đôi tay tung tăng nét bút. Nhưng vì buồn ngủ, tôi viết vội mấy dòng nhung nhớ dưới đây:

“Tallin nhớ nhất là đứng ăn dưới trời âm độ giữa chợ Giáng Sinh, thịt nướng, xúc xích với khoai tây, chưa kịp tính tiền đã lo nguội ngắt. Tay bỏ ra cắt thịt tê buốt mấy đầu ngón tay, được cái dao nhựa cắt thịt mềm hoặc do bản ngã sinh tồn trong thời tiết lạnh, tóm lại là thịt được cắt rất nhanh. Cắt ra hết rồi thì thịt chẳng còn hơi khói bốc lên, mà mùi khói tan trong miệng thì thơm không thể tả. 

Ba ngày rồi, áo khoác vẫn còn dính mùi soup của cái quán ăn thời trung cổ dưới Town Hall, ngon nhất là bánh mì nhân bắp cải, ngọt lịm, giòn tan. Thế mà chúng nó vẫn thích bánh táo chua chua ngọt ngọt hơn bắp cải.

Còn cái đêm cuối cùng trăng đẹp như cổ tích, treo giữa cái cây thông Noel to đùng với tháp chuông nhà thờ trung cổ. Xung quanh là các sạp gỗ đã đóng cửa, bóng đèn hình tròn nhỏ nhỏ móc thành dây chăng giữa các sạp hàng. Tuyết chưa kịp tan đã vội đóng băng, băng tạo thành hình thạch nhũ phản chiếu ánh đèn lung linh lấp lánh, trăng sáng trong không tìm thấy một vệt đen, bầu trời sâu thăm thẳm mà vẫn trong veo, và sao thì lấp lánh. Lấp la lấp lánh.

Lần sau đến Estonia ta sẽ ăn pancake mặn, thịt heo nướng, xúc xích chiên giòn, bánh bắp cải, húp soup thịt, uống chocolate gừng, thử thêm nhiều sushi và phải ăn bằng được thịt cừu với thịt bò trong nhà hàng trông lạ. Rồi dành cả một ngày tiếp theo nằm ườn trên cái giường trắng phau phau trong khách sạn không một bóng người. Ta tha hồ mở Secret Garden và chui gọn vào cái chăn siêu ấm áp đánh một giấc nồng, sau sẽ bò ra giường ăn bữa trưa bữa tối.

Cuộc ở đấy đã là vui.”

#1 Ăn ở Tallinn

Tallin nhớ nhất là đứng ăn thịt heo dưới trời âm độ ở chợ Giáng Sinh, thịt nướng, xúc xích, khoai tây; chưa kịp tính tiền đã lo nguội ngắt. Tay bỏ ra cắt thịt tê buốt mấy đầu ngón tay, được cái dao nhựa cắt thịt mềm hoặc do bản ngã sinh tồn trong thời tiết lạnh, tóm lại là thịt được cắt rất nhanh. Cắt ra hết rồi thì thịt chẳng còn hơi khói bốc lên, mà mùi khói tan trong miệng thì thơm không thể tả. Ba ngày rồi, áo khoác vẫn còn dính mùi soup của cái quán ăn thời trung cổ dưới chân Town Hall, ngon nhất là bánh mì nhân bắp cải, giòn tan, ngọt lịm.

Cái đêm trời trở tuyết cuối cùng trăng đẹp như cổ tích, treo trên đầu cây thông Noel to đùng với tháp chuông nhà thờ trung cổ. Xung quanh là các sạp gỗ đã đóng cửa, bóng đèn hình tròn nhỏ móc thành dây chăng giữa các sạp hàng. Tuyết chưa kịp tan đã vội đóng băng, băng tạo thành hình thạch nhũ phản chiếu ánh đèn lung linh lấp lánh, trăng sáng trong không tìm thấy một vệt đen, bầu trời sâu thăm thẳm mà vẫn trong veo, và sao thì lấp lánh. Lấp la lấp lánh.

Lần sau đến Estonia tôi muốn ăn pancake mặn, thịt heo nướng, xúc xích đỏ, bánh bắp cải, muốn húp soup âm độ, uống cốc chocolate gừng nhát chừng, thử thêm nhiều sushi và phải ăn bằng được thịt cừu bí mật trong nhà hàng trông lạ lạ. Sau đó tôi sẽ dành cả một ngày tiếp theo nằm ườn trên cái giường trắng phau phau trong khách sạn không một bóng người. Tôi sẽ tha hồ mở Secret Garden, Nguyên Hà, trầm mình trong cái tư lự của chú Quốc Bảo và chui gọn vào cái chăn siêu ấm áp, đánh một giấc nồng, rồi mới bò ra khỏi giường ăn bữa trưa bữa tối. Cuộc ở đấy là đã thấy vui.