Tallinn và Những Ngày Hò Hẹn

Ngày thứ hai sau khi chuyển nhà đến Tallinn, Trang nhận ra hôm qua Tallinn đã rất ưu ái mình bằng một bầu trời đầy nắng và gió.

Đây câu chuyện ngày thứ nhất.

Chuyện 1 ở Tallinn

Căn hộ mới khá hiện đại và tiện nghi, nằm trong một tòa nhà có vẻ ngoài khá cũ kỹ; đi dọc cầu thang là những cánh cửa khác màu và khác cả chất liệu nằm cạnh nhau, lệch lạc đến nỗi không ai nghĩ chúng nó là hàng xóm. Nếu tòa nhà này mà có thang máy, chắc Trang sẽ không suy nghĩ về học thuyết thiếu cân đối của những cánh cửa và tác dụng của chúng. À đấy, không có thang máy, và căn hộ số 15 thì nằm ở tầng thứ tư, hoàn hảo cho một ngày xách hai túi thức ăn nặng trịch sau giờ làm việc, cộng thêm chút gió, tuyết, và vài lần răng đánh vào nhau lập cập.

Quay lại ngày đầu tiên mình và vali đỏ nặng bằng một đứa trẻ 12 tuổi đến Tallinn. Nắng, gió, bầu trời đẹp, và mọi thứ như đã luyên thuyên vào ngày hôm qua chính là điều tuyệt vời nhất mình có thể chờ đợi (hay bất kỳ một thành phố nào khác sau chuyến đi bất kể ngắn dài nhưng có mệt mỏi), hoặc là do câu chuyện tip cho anh taxi của con bé Vũ mà mình cũng tip luôn cho bác tài xế taxi đen, cám ơn bác đã rất nhiệt tình với cái vali nặng trịch của cháu. Bác tài dừng xe ở Pronksi 4, Pronksi 2 nằm ngay kế bên, trên một đại lộ thoáng đãng và một con đường dành cho người đi bộ xanh rợp bóng cây. Và mình đã như kiểu: “Tuyệt, mình ở trên một con đường lớn. Kouvola hay Lahti đều chỉ có những rừng cây và một con đường đủ cho 2 chiếc bus.” Đại lộ đủ rộng rãi cho 4 cái bus thi nhau đi song song đấy nhé.

Trước khi đi bác tài xế taxi còn nhiệt tình bê hẳn cái vali lên vỉa hè cho mình và khuyến mãi hẳn một nụ cười rõ rực rỡ. Có lẽ ít khi bác gặp được một con bé excited Asian khổ sở vật vã đến tóc tai cũng chẳng buồn vuốt mà miệng thì cứ tủm tỉm cười. Rồi thì mình kéo vali đi 20m đến trước cửa Pronksi 2, bức tường xám trơn và trông có vẻ già cỗi. Thế mà nó hoàn hảo để tôn vinh cánh cửa đỏ chót nặng trịch thường thấy ở các bốt điện thoại công cộng của Luân Đôn. Mình nghĩ, ờ, mình phải gọi cho chủ nhà xuống mở cửa.

Một phụ nữ tóc vàng tầm 30 xuất hiện, kiểu “ta đã expect mày rất lâu, nhìn thấy mày lặn lội từ đó (Fin) sang đây (Tallinn) ta thấy thương quá.” Rồi cô nhẹ nhàng hỏi, “mày mang mỗi cái vali đó thôi hả? Vậy tuyệt, vì chúng ta không có thang máy đâu.” Cô rất tỉnh, và Trang đã kiểu như, “WTF, tôi biết làm gì với mùa đông và những túi thức ăn?” Chuông tin nhắn của mình còn văng vẳng: “Trang ơi, thể dục! Trang ơi, thể dục!” as mom wish. Ờ thì, đời không dài, nhưng đủ để YOLO. Kết thúc màn trò chuyện, hai cô cháu lạch bạch leo cầu thang với bé vali không biết đi nhưng nặng bằng con bé 12 tuổi của mình, cộng một hai lần nghỉ giữa đường để cô nghe điện thoại, tui lần đầu gặp mặt căn hộ mới của mình khi dừng lại trước cánh cửa màu nâu không có số (ngoại trừ miếng dán đỏ chũ trắng nổi bật dòng SECURITY). Con bé chính xác là thể loại chắc chắn và đẹp đẽ nhất trong số những cái cửa sắt xám xịt, cửa gỗ mô phỏng phòng sauna, cửa sắt xám nhạt kiểu hầm trú dưới lòng đất… Ok, và cô tóc vàng tủm tỉm bảo rằng, nhà mày đây, phòng số 15.

Cô lạch tạch mở khóa, mình lạch bạch kéo vali, và đập vào mắt là một đường hầm tí hon dán giấy tường màu nâu sẫm, phòng khách được hai cái cửa sổ lớn rọi nắng sáng trưng, như kiểu cuối đường hầm là ánh sáng hy vọng trong mấy bộ phim viễn tưởng về thiên đường, Chúa trời, hay một vài tiểu thuyết tương tự. Vậy là y như rằng, Trang lại lâng lâng một cảm giác tuyệt vời như cái hồi vừa đặt chân xuống Kouvola vừa nghe nắng hát (mà thực ra là một ban nhạc ngoài trời biểu diễn cạnh quán cafe Columbia. Họ chơi country nhé, tuyệt vời cho một quãng đường sau chuyến bay hơn 10 tiếng nhé :3)

Tiếp tục với căn nhà, mình gặp một chị người Phần học MBA ở Đan Mạch, chị ý ở một mình trong căn phòng 1 giường đôi kế bên. Vậy là chiều hôm đó hai đứa thủ thỉ dắt nhau đi dạo phố, đi tìm đường đến công ty, đi chợ (oh Thank God, cái siêu thị Rimi chỉ cách nhà mình có 300m). Tuyệt vời hơn là mình phát hiện ra một “Mình” phiên bản Châu Âu khác, vd như chị 25 và có cùng quan điểm về việc nấu nướng với mình, có cùng tiêu chuẩn lựa chọn bạn trai (chị đã kể là tất cả bạn trai trước của chị đều chăm sóc chị, mà chăm sóc chính là những bữa ăn ngon miệng :3). Tóm lại, hai đứa kết luận là có ai đó để nấu thì mới nấu ăn, nếu ăn một mình thì chị salad, em mỳ tôm hoặc vài thứ linh tinh (như kẹo chocolate nhân rượu mà Trang tình cờ mua được ở trên tàu Gabriella).

Và thì bữa tối của hai đứa kết thúc bằng món gà rán 60p trên chảo, khoai tây, cà rốt, và bí ngòi chiên. Đáng lẽ phải là món gà nướng và có thể ăn trong vòng 30p, những chỉ vì không đứa nào bật được cái oven chạy bằng gas và thì chị chỉ mới đến đây có 2 ngày, 1 ngày ra ngoài ăn tối và 1 ngày salad trừ bữa. Hai đứa vặn vẹo lên xuống rồi gọi điện cầu cứu bác chủ nhà, nhưng mà bác ý đang ở Úc và ngủ say sưa sau bữa tối ngon lành, nên 2 đứa đành vừa cụng bia vừa chiên gà trên chảo và thấp thỏm hy vọng máu gà sẽ không chảy ra khi cắt miếng đầu tiên…

Sep 1-4
Khung cửa sổ trong căn phòng nhỏ

Lần đầu đến Tallinn

Có một quán ăn nhỏ nép mình khiêm tốn dưới chân nhà thờ lớn. Tôi bị hấp dẫn bởi cái mùi vị quá đỗi xa xưa. Cái quán xuất hiện giữa một khu phố cổ, trong quán người ra vào chật ních, quán tối om, cả sáng lẫn tối đều thắp lên vài ba cây nến. Khi mới bước vào chỉ thấy ánh nến lập lòe, tối đến chói mắt. Sàn nhà lõm bõm nước chẳng biết từ đâu ra, tôi nghĩ có lẽ do khách tha cái mũi sắp rụng vì mùi súp vào quán, đã vô tình tha luôn tuyết kẹt dưới đế giày. Nói bẩn thì không bẩn, nhưng sạch thì cũng chẳng thể bảo tinh tươm.

Hay là cứ ví như, người ta mang cái quán từ thời Viking trở về hiện đại, từ cái tô húp súp cho đến cái ghế cái bàn, cái muỗng cái lò hay cái nền trũng nước. Nhưng không ai có thể cưỡng lại được cái hương thơm mằn mặn của chén súp thịt, đặc biệt đến cả cái chén đựng mùi thơm. Cái chén đựng súp ấy giống như cái bình bông bằng gạch nung đỏ làm từ đất sét mà ra, thô sơ đến nỗi mấy người thợ gốm cũng chẵng buồn trang trí hoa hòe hay ít ra cũng nặn cho hai bên đối xứng. Nhưng súp sẽ chẳng ngon nếu chẳng được húp từ mấy cái tô đất sét ấy đâu, hay thiếu mất ánh nến trong cái không gian tối thui không một bóng đèn ấy nữa. Hay có thể là thời này người ta đầy đủ quá rồi, đôi khi khuyết đi một chút lại cảm thấy thích thú lạ kỳ.

Còn phải nhắc đến bánh mì, bánh mì to một bàn tay rưỡi, có nhân bắp cải, cà rốt, thịt bò, nhân táo, bánh sừng bò… Nhân táo có vị ngọt ngọt chua chua, tôi thì thích nhất là vị ngọt tự nhiên của bắp cải trong bánh. Mấy bạn tôi bảo nhân táo ngon nhất, nhưng cái vị ngọt của bắp cải tan ra trong miệng khi cắn vào miếng bánh giòn giòn lại không khiến cái lưỡi ngả nghiêng ngây ngất đấy sao!

Tôi đến quán đó hai lần. Buổi tối đầu tiên họ cho chúng tôi muỗng ăn súp. Buổi sáng hôm sau, tất cả khách mua hàng đều phải húp từ tô. Chị bán hàng ấy nói: “Nếu muốn dùng muỗng thì hãy tự mang theo, dắt nó vào thắt lưng hay bất kì đâu trên cơ thể, như tôi đây này (rồi cô ấy rút từ trong người ra một cái muỗng gỗ). Còn nếu không hãy húp từ tô như những kẻ thô lỗ cộc cằn từ thời Viking ấy!” Trong khi ấy tôi liếc nhìn lọ muỗng kế bên cô, bật cười vô thức. Nhưng sự thực là, “ăn lông ở lỗ” cũng có cái hay, ngon hơn hẳn cái đêm tôi ăn bằng muỗng. Thậm chí tôi đã húp hết cả tô, chẳng cần nể nang yêu kiều thục nữ!

Về đến Phần Lan, nhớ về cái quán “thô lỗ cộc cằn có mùi súp thơm rụng mũi” đó, tôi mới nhớ cái tên đã bị tôi vô thức xóa mất đi – Draakon Ill.

Estonia đêm thứ hai, tôi tìm đến một quán cà phê khuất trong phố nhỏ, Maldelin. Trời đổ mưa, quán thì đóng cửa. Trước mặt chỉ có bậc thang dài dẫn lên nhà thờ cổ. Lúc tôi đứng nhìn người qua lại rất đông, đến khi tôi bước chân lên, chẳng còn ai đi ngang qua trên phố.

Một người đàn ông ngồi bên đường, phía trước là nhà thờ, người ra vào tấp nập. Trời đổ mưa, tuyết tan khiến đường trơn trượt. Ông ngồi trong vỉa hè, bao đàn đặt trước mặt. Không cần biết có người đi qua hay không, tay đàn ông vẫn đều đặn gảy. Tôi thả vào bao đàn hai đồng xu tôi có, rồi cơn mưa khiến chân tôi lỡ bước, tôi đi.

Khuất sau ngã rẽ, con dốc cũng xuôi dần chếnh choáng, tiếng đàn vẫn văng vẳng bên tai. Tôi hiếu kì, ngạc nhiên nép mình góc tường cuối phố, nơi ông không thể nhìn thấy có kẻ đang lưu luyến tiếng đàn. Mà cho dù tôi có đứng đấy hay không, ông chắc cũng không mảy may để ý. Tôi cứ nghĩ, thả vào đó một vài đồng xu lẻ rồi đi, cho đến khi con phố vắng người, khúc nhạc tiếng đàn cũng vô tình dừng lại. Tôi cứ nghĩ, ông với những người bán buôn cũng lạnh lùng như mùa đông trong phố cổ.

Tôi co ro trong cái lạnh. Dây đàn rung rung, mưa rung rung, lòng tôi cũng rung rung. Đêm đã tối trời, người ra vào nhà thờ cũng thưa thớt, tiếng nhạc cứ đung đưa,

du dương,

đung đưa,

như chưa bao giờ dừng lại.

Rêu phong bám trên tường đá cổ, băng tan, đàn chảy,

Tiếng đàn hết rơi, chân tôi đưa bước.

Lòng cứ mãi luyến lưu.

Mười hai giờ. Tôi bắt gặp màn đêm của bầu trời mà bao lần tôi phải tìm từ để tả. Chỉ là chưa bao giờ tôi tả được bầu trời để lòng vừa ý. Dường như từ ngữ nó hữu hạn vô cùng, đôi khi cứ nhất định phải dùng mắt để nhìn, tận mắt thấy bầu trời mà tôi tin rằng chỉ có trong cổ tích. Phải tự mình đứng trong ánh sáng của đèn vàng, nhìn thấy vầng trăng trắng lóa giữa nền trời thơ mộng. Với cái chóp hay tháp chuông nhà thờ trong những câu chuyện của Andersen, có Lọ Lem đang chuẩn bị chạy ra với phép màu sắp biến mất. Ở giữa cái làng cổ của Tallinn, cây Noel kiêu hãnh vươn mình với hàng ngàn lời cầu nguyện (thật ra những lời nguyện chỉ nặng trĩu khoảng cành cây thứ năm thứ sáu trở xuống mà thôi, vì cái cây thì cao mà người thì quá thấp), dưới ánh trăng vàng, và nhà thờ cổ, giữa những sạp hàng đã đi vào giấc ngủ, những căn nhà gỗ quây một vòng bao lấy cây thông lớn. Buổi sáng trời còn đổ nước, tuyết tan lầy lội hết con đường lót đá tổ ong. Màn đêm về tuyết đã phủ đông, băng sáng lấp lánh trên dây đèn chăng khắp lối. Bốn bề im phăng phắc, nhưng vô cùng ấm áp đón Giáng Sinh. Tôi đã có thể đứng đấy cả đêm, chờ bình minh ló dạng. Nhưng cái lạnh đến rất nhanh, đến khi nhận ra thì mũi đã cứng đơ, tôi trở về khách sạn.

Chúng tôi bỏ Tallinn để về với rừng cây trước nhà ở Phần Lan. Cơ mà mỗi lần nhìn lại tấm hình mình chụp (chụp bằng điện thoại nên lên máy tính không đẹp như tôi nghĩ, nhưng tôi vốn tin tưởng đôi mắt mình, chỉ cầnnhìn đã nhớ rất kĩ, điẹn thoại chỉ là gợi ý mà thôi. Cơ bản là cũng có nhiều hụt hẩng), lòng lại lâng lâng, lại bâng quơ, lại không kìm được đôi tay tung tăng nét bút. Nhưng vì buồn ngủ, tôi viết vội mấy dòng nhung nhớ dưới đây:

“Tallin nhớ nhất là đứng ăn dưới trời âm độ giữa chợ Giáng Sinh, thịt nướng, xúc xích với khoai tây, chưa kịp tính tiền đã lo nguội ngắt. Tay bỏ ra cắt thịt tê buốt mấy đầu ngón tay, được cái dao nhựa cắt thịt mềm hoặc do bản ngã sinh tồn trong thời tiết lạnh, tóm lại là thịt được cắt rất nhanh. Cắt ra hết rồi thì thịt chẳng còn hơi khói bốc lên, mà mùi khói tan trong miệng thì thơm không thể tả. 

Ba ngày rồi, áo khoác vẫn còn dính mùi soup của cái quán ăn thời trung cổ dưới Town Hall, ngon nhất là bánh mì nhân bắp cải, ngọt lịm, giòn tan. Thế mà chúng nó vẫn thích bánh táo chua chua ngọt ngọt hơn bắp cải.

Còn cái đêm cuối cùng trăng đẹp như cổ tích, treo giữa cái cây thông Noel to đùng với tháp chuông nhà thờ trung cổ. Xung quanh là các sạp gỗ đã đóng cửa, bóng đèn hình tròn nhỏ nhỏ móc thành dây chăng giữa các sạp hàng. Tuyết chưa kịp tan đã vội đóng băng, băng tạo thành hình thạch nhũ phản chiếu ánh đèn lung linh lấp lánh, trăng sáng trong không tìm thấy một vệt đen, bầu trời sâu thăm thẳm mà vẫn trong veo, và sao thì lấp lánh. Lấp la lấp lánh.

Lần sau đến Estonia ta sẽ ăn pancake mặn, thịt heo nướng, xúc xích chiên giòn, bánh bắp cải, húp soup thịt, uống chocolate gừng, thử thêm nhiều sushi và phải ăn bằng được thịt cừu với thịt bò trong nhà hàng trông lạ. Rồi dành cả một ngày tiếp theo nằm ườn trên cái giường trắng phau phau trong khách sạn không một bóng người. Ta tha hồ mở Secret Garden và chui gọn vào cái chăn siêu ấm áp đánh một giấc nồng, sau sẽ bò ra giường ăn bữa trưa bữa tối.

Cuộc ở đấy đã là vui.”

#1 Ăn ở Tallinn

Tallin nhớ nhất là đứng ăn thịt heo dưới trời âm độ ở chợ Giáng Sinh, thịt nướng, xúc xích, khoai tây; chưa kịp tính tiền đã lo nguội ngắt. Tay bỏ ra cắt thịt tê buốt mấy đầu ngón tay, được cái dao nhựa cắt thịt mềm hoặc do bản ngã sinh tồn trong thời tiết lạnh, tóm lại là thịt được cắt rất nhanh. Cắt ra hết rồi thì thịt chẳng còn hơi khói bốc lên, mà mùi khói tan trong miệng thì thơm không thể tả. Ba ngày rồi, áo khoác vẫn còn dính mùi soup của cái quán ăn thời trung cổ dưới chân Town Hall, ngon nhất là bánh mì nhân bắp cải, giòn tan, ngọt lịm.

Cái đêm trời trở tuyết cuối cùng trăng đẹp như cổ tích, treo trên đầu cây thông Noel to đùng với tháp chuông nhà thờ trung cổ. Xung quanh là các sạp gỗ đã đóng cửa, bóng đèn hình tròn nhỏ móc thành dây chăng giữa các sạp hàng. Tuyết chưa kịp tan đã vội đóng băng, băng tạo thành hình thạch nhũ phản chiếu ánh đèn lung linh lấp lánh, trăng sáng trong không tìm thấy một vệt đen, bầu trời sâu thăm thẳm mà vẫn trong veo, và sao thì lấp lánh. Lấp la lấp lánh.

Lần sau đến Estonia tôi muốn ăn pancake mặn, thịt heo nướng, xúc xích đỏ, bánh bắp cải, muốn húp soup âm độ, uống cốc chocolate gừng nhát chừng, thử thêm nhiều sushi và phải ăn bằng được thịt cừu bí mật trong nhà hàng trông lạ lạ. Sau đó tôi sẽ dành cả một ngày tiếp theo nằm ườn trên cái giường trắng phau phau trong khách sạn không một bóng người. Tôi sẽ tha hồ mở Secret Garden, Nguyên Hà, trầm mình trong cái tư lự của chú Quốc Bảo và chui gọn vào cái chăn siêu ấm áp, đánh một giấc nồng, rồi mới bò ra khỏi giường ăn bữa trưa bữa tối. Cuộc ở đấy là đã thấy vui.