Raindrops Keep Fallin’ On My Head

Tôi nhớ nắng.

Cái ánh nắng nhạt nhòa và hong hanh chỉ ở Phần mới có. Cái nắng nhẹ nhàng và trầm lặng trên những cung đường vàng. Tôi có cả một bầu trời đầy nắng ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nắng.

Tám tháng trước, điều khiến tôi vui vẻ nhất khi tỉnh giấc là buổi sáng có nắng. Điều khiến tôi thấy được an ủi nhất là buổi chiều được ngắm nắng hoàng hôn. Khi đó bầu trời Helsinki luôn cao xanh vời vợi. Khi nhìn lên trời, gió sẽ thổi qua mái tóc. Tôi ngẩng đầu rất cao để nhìn em, tựa như chẳng có buồn phiền nào cao hơn nó cả.

Có lần tôi vô cùng buồn phiền trên xe buýt, cảm thấy ngột ngạt và bí bách như người thiếu oxi. Rồi tôi khóc ngất trên đường về nhà khi trời vừa đổ nắng. Từ khi cụ mất đi, tôi nghĩ mình đang bị giam cầm trong bầu trời mà bản thân không thể chạy thoát. Tôi đóng cửa bản thân suốt những tháng sau đó, lòng tôi rất trống trải, và tôi nhận ra quanh mình có rất nhiều người cô đơn, tôi là một trong số đó. Bước trên đường về nhà vào những ngày nắng, tôi thường bật khóc giữa trời, tưởng như chỉ có bầu trời mới hiểu được nỗi buồn dài rộng của con người ở dưới này vậy. Tôi không yêu ai, không có ai làm điểm tựa, tôi chỉ muốn khóc dưới bầu trời đầy nắng. Khi ngửa mặt lên trời và đưa tay che mắt, tôi nghĩ cụ sẽ tìm được tôi ở nơi xa xôi này.

Mỗi lần lòng buồn ghê gớm, tôi phải ‘refill’ với ‘positive energy’. Lần này tôi hết muốn nghe Bob Marley với “Three Little Birds”. Tôi thèm Dean Martin hay Frank Sinatra với chất giọng cực trầm đầy an ủi, sau cảm thấy B.J.Thomas cũng không tồi, nhưng vẫn quyết chọn Dean Martin vì mê mệt bản “La Vie En Rose” của người ấy. Tôi auto play một bài nhiều đến nỗi cô bạn hàng xóm phải chạy sang hỏi thăm, “Trang, mày ổn chứ?”

Sau đó, mùa đông đến, nắng ít hơn, tôi bị u uất. Tôi nhận ra mình phải về nhà, phải tạm biệt Helsinki. Tôi nghĩ tôi sẽ rất nhớ em (Nắng), nhưng tôi phải trở về. Tôi phải đi tìm ánh nắng của riêng tôi.

So I was on that plane home.

“Because I’m free, nothing’s worrying me.”

Độc thân không cô đơn

Mẹ tôi luôn bảo con gái có ai không phải lấy chồng, đi làm dâu mới biết viết ngược chữ “khổ”. Nhà tôi có quan niệm phụ nữ phải tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh, bếp núc giỏi giang… nhưng chẳng cầu kỳ gì về người đàn ông hết cả! Tôi nghĩ, “nhà” thì phải do hai bàn tay vun đắp, hai người hai nghĩa vụ, hai quyền lợi bình đẳng như nhau; hai người hai trái tim vàng sống trong mái lầu son, chứ không phải là túp lều tranh để sau này nuôi con, con cũng khổ. Lúc còn trẻ thì sự nghiệp đi đầu, tình duyên có cưỡng cầu cũng chưa chắc đến, có hợp sẽ có tan, cứ từ từ mà quen, không việc gì phải vội.

Nói với mẹ quan điểm của mình, mẹ tôi tức ngất, nhưng không phải không đồng tình. Mẹ làm dâu mười năm rất khổ, xa xứ xa quê mà lại lấy sai người. Vậy nên tôi luôn nghĩ yêu đương là chuyện của mình, còn kết hôn là chuyện của họ [hàng]. Suy cho cùng thì kết hôn cũng chỉ là một tờ giấy, lúc ly hôn phải cầm thêm mấy tờ nữa không chừng.

Tôi không quan tâm. Không gặp đúng người, không gả. Ba mươi năm chưa phải là dài. Độc thân nhưng đâu có cô đơn.

Bệnh ung thư

Ông bà mình có câu: “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.” Nói nôm na không vân hoa là “Không yêu không thương thì chẳng ai bỏ công ra càu nhàu làm người nghe người ta buồn phiền cả.” Cha mẹ ai cũng thế. Nhưng cứ thế mãi thì không hay, nhất là khi mấy đứa trẻ vừa phải gặm nhấm ăn mòn, tự mình vượt qua cái “Khủng hoảng đầu đời” (Quarter-life crisis), vừa nghe la nghe mắng.

Ở Tây hay ở Ta thì ai trong cái lứa sắp tốt nghiệp hoặc đang thất nghiệp sau tốt nghiệp đều có cái buồn phiền về đủ loại vấn đề vẩn vơ từ đâu tới: việc tốt nghiệp, thất nghiệp, sức khỏe, công việc, tình trạng tình yêu đáng báo động, đến việc gia đình họ hàng thúc giục kết hôn xem tai xem mắt. Thước đo tự tin của các bạn thì cứ tuột dần dần, “hùng tâm tráng chí” gì gì cũng xịt.

Đâu cũng thế, “Ở xa thì chuyện mình là việc của mình, còn về nhà thì chuyện mình là chuyện của cả họ.” Ngắn gọn, trần trụi là nếu không muốn tự tử vì nhàn rỗi thì người ta phải có cái chuyện “bao đồng.” Người đi ra nói với một câu, người đi vào lại thêm một sự, cha mẹ nhịn không được cũng góp một câu. Như bạn bè mình ít có ai được nghe các bậc phu huynh hỏi han, nỉ non trò chuyện. Ít, chứ không phải là không có, hoặc đã từng có rồi; cứ ở cách người nhà mấy ngàn cây số là được, như câu “Xa thơm gần thối” đó mà.

Tuy rằng sống trên đời sẽ có lúc muộn phiền, nhưng không gì buồn bằng cái sự đau lòng do chính người mình thương yêu mang đến. Khi yêu thương ai đó thì mình cũng cho họ cái quyền được làm mình tổn thương. Khi bị tổn thương thì con nhím xù lông, con rùa chui vào vỏ, còn con người thì đóng cửa khép mình tự bảo vệ bản thân. Nên các quý vị phụ huynh chuẩn bị lên dây cót mắng mỏ con em mình, vì tốt cho nó hay cho người ngoài nhìn, thì xin hoãn lại một phút để hít vào, thở ra; nghĩ coi mình là nó thì vì sao mình lại thế; nó đang nghĩ gì sợ gì ấm ức cái gì. Hãy sống tình cảm với con em mình nhiều thêm vài chút chứ đừng để chúng mang tâm lý sợ yêu, sợ thất bại, sợ kết hôn (trước khi quá muộn). Quý vị có nhiều kinh nghiệm sống hơn chúng con, quý vị hiểu hơn cái băn khoăn buồn bã của tuổi 20s; còn chúng con có thế giới quan khác biệt nhiều hơn cái thời của cha mẹ, có thể cúi đầu lắng nghe sự chỉ trích của cha mẹ, nhưng không thể thoát khỏi sự tự ti, ấm ức từ trong lòng.

Còn nếu quý vị vì người đời nói chuyện mà mắng mỏ con cái cho sướng mồm (hay để giải tỏa tâm trạng), thì hy vọng các cô các bác cân nhắc việc tìm đến một bác sỹ tâm lý uy tín cho con. Gãy tay gãy chân thì sẽ khỏi, nhưng nó sống sao được với cái bệnh “Ung thư tinh thần”?

#9 The littlest things

It’s easy to melt my heart: a small cup of hot white chocolate that is sold on the street, a heart-melting song that I haven’t heard for long, a delicious homemade dish, a tight embrace, a sunny blue sky, a lovely bird, Marry Poppins and golden oldies melody, an autumn falling yellow leaf, the crying sound of newborn baby, boyfriend’s breakfast, a slow walk under starry night sky, or a little “quick fast kiss” on my forehead…

To make me fall in love with you.

Blogger treo ngược cành cây

Hôm nay tình cờ vào blog của một người quen, đã lỡ đặt một chân trong cửa rồi chẳng lẽ lại quay mông bỏ chạy. Blog anh ta không khóa, hoặc đã khóa riêng những chuyện cơ mật rất tiêng tư – giống như một bộ phim chẳng bao giờ phát hành mà chỉ demo trailers dài kỳ tùy tâm trạng. Blog của anh (nếu không nhầm anh ấy có lẽ hơn mình chục tuổi nhưng tôi thì cứ ngỡ anh chàng này mới đâu đó 26 mùa thu) viết về rất nhiều thứ, về âm nhạc, lối sống, tâm tư, suy nghĩ vả cả những niềm riêng. Anh có thế giới của mình và biết cách sống một mình đầy thi vị. Anh viết rất thật và rất chật, chất hơn cả đường kẹt xe trên phố Sài Gòn. Có lẽ vì không muốn người ta nhìn thấu hết nội tâm của mình mà anh giấu nhẹm phần ‘Category’ đi mất. Tôi dạ tự bảo lòng, sự riêng tư cũng cần được tôn trọng.

Đọc blog của anh thì thấy anh có cả một gia tài đồ sộ – về tinh thần, quan niệm sống và thế giới quan cộp mác ‘Của anh’. Anh có giá trị quan, anh không giống bất kỳ ai và không muốn sống như ai. Anh là anh, là đủ. Tôi không dám phân tích anh hay nói ‘về anh như thật’; tôi chỉ nghĩ mình đã tìm được rồi, người như anh thật sự tồn tại. Một tâm hồn đồng điệu, một người sẽ cười khi tôi kể chuyện, người yên lặng ngồi với tôi hàng giờ. Người cùng tôi du lịch ở quán cà phê, pub, có khi sẽ để mặc tôi giận lẫy không chừng; người khiến tôi an tâm uống vài ly whiskey bên cạnh, khóc với anh, dựa dẫm anh, và đôi khi được làm chỗ dựa của anh; chúng tôi sẽ thích hưởng thụ sự chậm chạp của nhau; và anh sẽ khiến tôi yêu mùi khói thuốc mà bản thân luôn ghét cay ghét đắng – Chậm một chút, nhầm hàng rồi. Tôi đang kể về Mr. Right của mình. Người như anh hẳn đã là một ‘fulltime lover’ của một cô nàng nào đó, còn tôi thì muốn có một tri kỷ như anh [nhưng chắc gì người ta đã cần]. Có thể anh ta chỉ thích hưởng thụ những khoảng trống một mình – chứ tội gì phải lao đao vì gái [hay trai]. Còn Mr. Right của tôi vẫn đang lạc đường ở phương trời nào đó.

Để tôi ba hoa về mẫu hình của mình thì hàng giờ cũng không đủ, mà chẳng phải là tôi ‘fall for him at the first words’ gì cam. Tôi thấy nếu cuộc đời ưu ái cho tôi gặp người thật, chắc bản thân sẽ không thể kìm lòng mà dong dài bắt chuyện, chỉ mong không bị người ta lạnh lùng vì lòng dạ phàm tục.

Tôi đã nghĩ – bạn gái, người yêu, và nhất là vợ của anh sẽ là người hạnh phúc nhất thế giới, miễn là khi thế giới ấy có anh. Còn tôi, tôi với tình yêu có rất nhiều định kiến. Chỉ mong gặp đúng người, chung thủy; vui thì cười, buồn thì phụng phịu, cùng nắm tay nhau đi vài đoạn đường đời khi còn đủ chân thành.

Tôi chưa bao giờ tin vào tình yêu,
với thế giới này đó là điều xa xỉ.

Passenger ở Helsinki

Tháng Mười năm 2016, tôi có tranh thủ đi concert của Passenger ở Helsinki. Cho đến khi về nhà ngả đầu lên gối, mũi tôi vẫn cay cay vì những lời chia sẻ của anh giữa hội trường gần một nghìn người đủ màu da sắc tộc.

Passenger là nghệ danh của ca sỹ, nhạc sỹ người Anh Michael David Rosenberg. Cả show diễn buổi tối hôm ấy anh cứ dùng cái tên Micheal rất bình thường của mình để trò chuyện với khán giả. Và sau buổi tối ngày hôm đó, cái tên Micheal chẳng còn tầm thường đối với người hâm mộ anh.

Anh đã dùng nửa cuộc đời của mình để busking (lưu diễn đường phố) trên khắp nước Anh, kể cả khi cái tên Passenger và “Let her go” đã in sâu trong lòng khán giả. Trong một lần busking ở góc phố vắng người trên đất Ý, Micheal gặp một người đàn ông đứng tuổi. Ông có dáng người đậm, cả linh hồn của ông toát lên một sự bi thương kỳ lạ. Khi Micheal hát, ông ngồi bên đường lắng nghe. Ông cúi đầu, vùi mặt vào gối, và cứ ngồi bất động trong tư thế đấy suốt một tiếng đồng hồ. Micheal lúc đó chột dạ, nghĩ, “Ông ấy chết rồi chăng? Did my music just kill a man?”

Micheal dừng hát, anh bước qua và đặt một tay lên vai người đàn ông. Khi ông ta ngước mắt nhìn lên, Micheal nhìn thấy ở người đàn ông chất đầy nỗi đau và nước mắt. Sau vài câu mở đầu, ông ta bảo Micheal, “Chàng trai, âm nhạc của cậu khiến tôi nhớ đến người vợ quá cố.” Họ hẹn nhau sẽ cùng đi du lịch qua 12 nước sau khi nghỉ hưu. Nhưng vì cơ sự riêng của mỗi người, cuộc hẹn bị trì hoãn. Cho đến khi họ sẵn sàng hoàn thành chuyến đi của mình, vé máy bay và phòng sạn đã đặt xong; người vợ bị chuẩn đoán ung thư giai đoạn cuối. Bệnh tình của bà biến chuyển nhanh đến nỗi, họ đã không thể thực hiện giao ước đó. Một tháng sau khi bà mất, ông quyết định một mình hoàn thành hành trình đấy, tin rằng bà vẫn đang đồng hành với ông.

Sau sự kiện đấy, anh quay về khách sạn, viết một ca khúc về chuyện kia. Nhưng nó quá ngắn để làm thành một bài hát hoàn chỉnh, anh quyết tâm đi tìm một câu chuyện khác.

Một buổi chiều ở Đức vào nửa năm sau đó, anh ngồi sáng tác nhạc trong phòng lounge của khách sạn. Một người phụ nữ muốn mời anh một ly rượu. Anh thấy bà khóc nên hai người ngồi lại trò chuyện. “I [his music] made women cried all the time so that’s not anything unusual” (“Âm nhạc của tôi khiến phụ nữ khóc suốt, điều đó chẳng lạ lẫm gì cho cam”), anh nói. Sau cuộc trò chuyện với người phụ nữ nọ, anh trở về phòng, viết nốt bài hát dở dang. Anh kể, người phụ nữ và vị hôn phu yêu nhau mười năm, có với nhau một mụn con, và họ sắp kết hôn. Điều gì đó đã xảy ra, người đàn ông thay lòng và đến với một cô nàng trẻ hơn bà mười tuổi. Bà đã bỏ tất cả để đi tìm thế giới của mình. Và bà đã bước vào âm nhạc của anh.

Đây là bài hát buồn nhất tôi nghe trong cả buổi tối, mặc dù nhạc của Passenger chẳng vui vẻ gì cho cam. Khi kết thúc buổi diễn, cả khán phòng hô hào “Encore Encore” khiến cả band không nhịn được phải bước ra hát tiếp. Micheal nhấp vài ngụm Whiskey trên sân khấu, ánh đèn le lói chớp tắt không thấy rõ người. Anh nói, “Bài hát đó chắc sẽ không ra mắt, đây là bí mật của họ, của tôi, và của các bạn [những người có mặt trong hội trường ngày hôm này].”

Có rất nhiều bài hát hay trong album mới của anh, “Young as the morning, Old as the sea”, nhưng người ta chỉ nhớ đến “Let her go” (not “Let it go” by the way) xưa hơn cả cũ. Micheal nói, có những bài anh mất cả một năm để sáng tác, có những bài chỉ vỏn vẹn hết 45 phút cuộc đời, như “Let her go” chẳng hạn, và anh chưa từng nghĩ rằng nó sẽ thay đổi cuộc sống của anh. Anh đã từng sợ hãi, từng thất bại, từng gục ngã, và ‘từ bỏ’ đã từng hiện hữu trong suy nghĩ của anh. “But I’ve never done that. When I saw people quietly wipe out their tears off the stage, I felt my heart beats, somebody is listening to my music, to my soul.”

#8 Qua nước mắt, qua đời

Mình chẳng có gì nhiều ngoài trừ cái dài rộng của thời gian, nên nhiều khi sống mà dửng dưng với nó. Đến khi cái chết dội vào lòng những tiếng thở nặng nề. Thương thay một thân xác tàn lụi. Truyền thuyết Trung Quốc kể về một ven đường đỏ rực sắc hoa bỉ ngạn. Ở nơi đó, người ta chần chừ ngoái về cái sự âm ỉ lặng yên quạnh quẽ. Hãy để họ được thanh thản ra đi.

Trước cái chết và nậm cỏ xanh, em được khóc thật to, được thiếp đi trong giấc ngủ sâu để chấp vá linh hồn mệt mỏi. Em được vùi mình trong giấc ngủ, nhưng đừng ngủ quên trong những thương đau – em hãy ăn năn bằng sự quật cường và mạnh mẽ; nhưng đừng chết chìm trong mùi cồn, khói thuốc, và men say.

Trong cuộc đời, em được quyền bất lực. Hãy mỉm cười với cùng cực cuộc đời, để sống. Để tiếng lòng của người ra đi được an nghỉ yên nhiên.

Cụ Tôi

Năm 2014 tôi về nghỉ hè, trước đó một hai tháng cụ bệnh nặng một lần làm cả nhà sợ chết khiếp; tôi vừa về đến nơi thì cụ liền khỏe lại; thân xác cụ gầy gò ốm yếu nhưng ý cười trong mắt chẳng tắt bao giờ. Gặp tôi cụ than thở người cụ đau nhức lắm, khổ sở lắm, không biết bao giờ con rể (ông nội tôi) mới đến rước cụ về trời; tôi liền sấn lại bóp tay bóp chân bóp vai cho cụ, cụ để tôi xoa bóp một chút xíu rồi bảo thôi. Cụ sợ cháu mỏi tay thật hay tay nghề của tôi vụng về không biết nữa. Continue reading “Cụ Tôi”

Chạy Trời Không Khỏi Nắng

Khi viết những dòng này, tôi nhận ra một điều: Ai trong đời này cũng đều trải qua dăm ba cái khủng hoảng. Không lớn thì cũng là cực lớn; những cái khủng hoảng thay đổi nhân sinh quan và nhận thức của một người, và dù bạn có là ai thì cũng “chạy trời không khỏi nắng.” Trong tương lai, sẽ có nhiều việc khiến bạn phải e dè, khiến ý chí của bạn bị thử thách, sợ hãi, và băn khoăn – nhưng đừng chùn bước.

Năm đầu vừa vào đại học, tôi đã chuẩn bị cho cái khủng hoảng đầu tiên trong đời mình – khủng hoảng hậu tốt nghiệp. Ra trường: không việc làm, không quan hệ, không người thân, không bè bạn – thể nào tôi cũng bị cuộc đời dập cho giòn giã; vậy nên tôi nghĩ sao mình không chuẩn bị từ sớm hơn đi. Thế nên năm một tôi cặm cụi gom từng tín chỉ; năm hai năm ba du lịch, thực tập, exchange; năm tư thì bắt đầu xông xáo vào đời tập làm sinh viên thất nghiệp. Các vấn đề vớ vẩn mà mọi người trưởng thành phải trải qua trở thành áp lực của kẻ mới chập chững vào đời, từ khủng hoảng tài chính, mối quan hệ cá nhân, định hướng nghề nghiệp, cho đến ước mơ, gia đình, tình cảm; tự tôn và tự tin của tôi bị cuộc đời say mê đẽo gọt, tự tôi phải vớt vát từng mẩu vương vãi trong lòng rồi tự nhắc mình phải “fake it till I make it.” Lúc đó dù tôi không kể mẹ nghe về tâm sự trong lòng, nhưng mẹ tôi nói, “Đừng lo, mẹ của con giỏi lắm.” Tôi bật cười bật khóc ngon lành, rồi trải qua cái khủng hoảng đầu tiên ở tuổi hăm hai rực rỡ.

Trong sáu tháng viết luận văn, tôi chuyển lên thủ đô, mỗi tối tôi đều ôm bàn xin việc, học thêm kỹ năng, đi bán thời gian, sửa luận văn, viết CV, lại nộp đơn xin việc. Giữa những chọn lựa, mục tiêu, say mê, nhiệt thành và chục trăm cái email từ chối; lòng tin của tôi bị nứt, bị đục, bị xói mòn, rồi thoái hóa, cứ như từng khúc thịt bị phân hủy dần rồi rơi ra từng mẩu. Hàng chục ngàn chữ trong bài luận văn gần như là thứ duy nhất khiến tôi cảm thấy mình đang tiến lên phía trước, nhưng điều đó không giúp tôi ngăn những đêm mất ngủ quay trở lại và những suy nghĩ không buồn ngừng trôi. Trong những ngày ấy, tôi bừng tỉnh khỏi thế giới ngây thơ. Nếu bạn hỏi lúc nào thì người ta thực sự lớn, thì tôi trả lời rằng, đó là lúc cả thể xác và tinh thần đều không cho phép mình mua thêm một thanh kẹo, bụng bảo dạ cấm nạp thêm đường; sự tự tin thì tỉ lệ nghịch với số lượng email xin việc từ chối, bối rối và thất vọng. Nhưng tôi không phải là người duy nhất trải qua thời gian đó, bạn cũng không, hàng trăm sinh viên mới ra trường ngoài kia cũng thế. Vì áp lực mà tôi lăn ra ốm nhẹ, lúc đó không có ai bên cạnh, tôi dạ tự bảo lòng, “Tủi thân thì tủi thân, chứ đừng rơi nước mắt.” Cuộc đời đang dạy mình cách để sống tự tin, đường hoàng và kiên cường như mẹ. Còn cái khủng hoảng tuổi hai hai của tôi không phải là sự thiếu thốn về vật chất, mà là mảnh đất ở trong lòng.

Có ai còn nhớ ngày bé khi nằm vắt chân lên trần nhà, khoác lác ba hoa với lũ bạn thân về tương lai trong tưởng tượng? Miệng mồm đứa nào cũng mạnh dạn và vô lo, những ngày mà lũ trẻ con bọn mình còn đang háo hức và tự tin hết sức. Đùng một cái, tôi nhận ra mình không còn nằm nhìn trần nhà và nói về tương lai nữa. Tôi lai vãng ở những quán cà phê và trầm mặc như một cụ bà, thoải mái với sự đơn độc của việc ngồi tĩnh lặng một mình. Gặp bạn gặp bè thì tranh nhau than thở về những kế hoạch dang dở, chuyến du lịch chưa lăn và những chật vật đời thường của thời sinh viên thất nghiệp. Chúng tôi tán dóc, trầm mặc, ba hoa, ca thán, cười đùa, buồn bực. Thứ gì cũng có, chỉ thiếu có việc hào hứng nói đến tương lai. Dường như người ta thoát ra khỏi cái xác trẻ con bằng việc quên đi cách sống vô tư, còn vô tư là đặc quyền chỉ trẻ con mới có.

Bạn tôi đặt chuyến bay tháng Năm về Việt Nam. Tháng Tư, tôi đón nó về nhà ăn buổi tiệc chia tay. Từ ngày chuyển lên thủ đô đến giờ, chưa ngày nào nhiều chuyện cũ được lăn dài và tiếng cười lại tràn đầy đến thế. Chúng tôi nói chuyện trên trời dưới đất, nói liến thoắn, nói bạc cả thời gian, nói hết chuyện hay đến chuyện dở. Cái sự chia xa không rõ ngày hẹn khiến người ta rưng rưng nước mắt, như có kiến bò trong lòng, không nỡ để nhau đi. Cái kỷ niệm và hội bạn bè đúng là điều khó hiểu.

Anh H sụt hẳn mười bốn ký kể từ khi chuyển lên thủ đô. Hơn một năm rồi chúng tôi mới gặp lại. Thằng T thì vẫn đen nhẻm. Thằng C thì nuôi một cái đầu tóc tai lổm nhổm. Người học xong ba năm kinh tế thì tìm thấy ước mơ, đi làm đầu bếp. Đứa chuyên tâm theo ngành học thì tất bật part-time, tiến sĩ, hoặc chuyển ngành sang đến IT. Gặp gỡ nhau vài năm, rồi lại xa nhau vài năm nữa. Cái thế giới sinh viên và cuộc đời đâu có đơn giản, khi xa nhau không biết sóng gió gì đã thay đổi nó rồi. Ai cũng bận toan tính những chuyện riêng. Chẳng ai biết con đường sau này dài rộng thế nào, chỉ biết trên đường tìm kiếm mục tiêu, ai cũng có vài lần bước hụt. Nhưng rồi có làm sao, ở đời người khóc người cười; có ai nào khóc một đời, có người nào cười một kiếp. Chẳng thà xông xáo một cách vụng về còn hơn là không làm gì cả.

Nói ba hoa, nghĩ chơi chơi như thế thôi thì tôi giỏi lắm. Chứ không ít ngày rong ruổi trên đường về, tôi trôi nổi trên dăm ba tuyến buýt nội thành dằng dặc và gặp chục trăm người chưa từng gặp mặt; tôi trở thành nhà tư tưởng nửa vời, cũng có đôi lần gục đầu làm con rùa rụt cổ. Tôi đóng cửa bản thân, miễn tiếp khách. Có vài ngày cùng cuộc đời hờn giận là chỉ muốn bỏ đi, kệ đi, biến mất đi. Cứ vô trách nhiệm đi trốn khỏi thế gian, rồi mặc cả ỉ ôi với bản thân nhưng chẳng có bao giờ làm thật. Hết hờn ngồi ngẫm lại, thấy mình ko manh động thật đáng khen ghê. Nhưng vẫn luôn có vài ngày tâm trạng lại ủ ê như trời mây u ám, lại giận hờn, lại muốn tách cả quả Đất ra xa. Cái tượng đài tôi xây dựng dần dần nhỏ lại. Tôi dùng 180 ngày quanh quẩn trong lòng để vớt lên chút tự tin. Tôi luôn nhắc nhở mình rằng, muốn làm việc lớn hơn phải giỏi giang từ việc nhỏ; để “earn” thì phải “learn”.

Trong lúc chật vật xua đi đám mây đen dai dẳng và bấu víu vào những niềm vui tạm bợ hằng ngày, đơn xin việc của tôi được hồi đáp, nhận được học bổng của nhà trường, vinh dự tốt nghiệp, công việc tự do phát triển nhanh chóng; email cái khiến tôi vui có, cười có, buồn bực có, tự hào có, muốn đánh người cũng có. Tôi bỗng nhận ra đấy là thành quả của những ngày không ngừng lết lên phía trước. Lúc nhận được tin báo điểm luận văn, tin phỏng vấn, tin trúng tuyển; tôi sung sướng bay lên mây, rồi chỉ muốn bắc cái loa tự gào vào mặt, “Told you! Keep your head held high.” Ngày còn có sáng có đêm, trời còn có nắng có mưa cơ mà.

Khởi đầu của tuổi thanh xuân có đôi lần đáng sợ, nhưng chẳng có làm sao, ta còn có tuổi trẻ. Hãy cứ ngẩng cao đầu, hãy âm thầm ngạo nghễ. Nếu bị tắc nghẹn trong cùng cực của cuộc đời thì thỉnh thoảng cứ làm rùa rụt cổ, khóc một trận thật to, nức nở thật lâu, trút hết buồn bực rồi thò đầu ra là được.

Khóc đi em, đừng sợ.
Ngày nào chẳng có sáng đêm,
người nào chẳng có chênh vênh một mình.

Một Mùa Ta Đã Thương Nhau

Chiều tháng Chín, Helsinki bước vào mùa đông, người qua đường đạp lên nước trên gạch, bẩn và lạnh. Tôi đến cảng vào giờ tan tầm, đại lộ đông như mắc cửi, tram chật kín người; người già ngồi nói chuyện, người trẻ đứng cười đùa, người cần tránh mưa, người thì thơ thẩn. Bầu trời thì xám xịt nhưng ai cũng tự giữ một sự vui.

Tram dừng trước cửa khu thương mại, tôi kéo vali băng qua vạch kẻ đường, tóc tai bay tán loạn, cây dù oặt ẹo bị gió đánh gãy một, hai khung làm ướt một bên vai; tôi cứ thế lao vào lòng đường để hạt mưa bé con con rơi đầy vào mặt. Bước vào tòa nhà thương mại, tôi liền trông thấy một nhóm ba người quen thuộc. Quăng dù xuống đất, tôi lao vào lòng chúng nó, bụng kêu rột rột. Cả lũ cười phì.

Bốn người chúng tôi ôm nhau thật chặt. Tôi phải dang rộng tay và nhón chân lên cao để hai đứa thấp hơn không bị ngộp thở. Một hội bảy đứa có gần nửa là học sinh trao đổi từ Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha, Nga, còn lại chúng tôi ba Việt, một Nga là sinh viên chính quy. Chúng tôi gặp nhau ở Kouvola, uống bia ở Kouvola, đánh nhau ở Kouvola, và chia tay vào một ngày ngắn ngủi.

Sau chuyến du lịch vào đầu tháng Năm, hội exchange tan rã, đứa nào phải về nước thì về nước, đứa nào về thăm nhà thì về thăm nhà. Chúng tôi mỗi đứa vài vali bay một ngả. Ba tháng hè cứ thế trôi qua, tin nhắn của hội vẫn xuất hiện trên Messenger đều đặn. Chúng tôi nói về tất thảy mọi chuyện linh tinh, như là có một quán Việt mới mở ở Brno; đêm nay tao nhớ chúng mày lại mất ngủ; mày xem bài báo này chưa; mày có nhớ chuyện này chuyện này chuyện kia không; ừ, hồi đấy vui thật; thằng này còn ‘made out’ với con kia trong bar nhé; một hôm thằng kia uống say còn dọa bọn con nít nữa nhé; có đứa thì lôi lôi kéo kéo tao bảo là “Mày thích tao” đấy… Sau đó, tin nhắn từ các quốc gia vẫn liên tục được gửi. Cả mùa hè, ban ngày tôi lao vào làm việc, ban đêm trằn trọc muốn bay ngay về Phần. Ngày tôi sắp sang, Valter viết lên tường của tôi trên Facebook: “bạn không gọi và không viết, tôi nhận được khó chịu.”

  • Mày nói cái khỉ gì đấy. Chẳng có nghĩa gì cả. It’s wrong.
  • I don’t care.

Tháng Tám, vừa trở thành sinh vên năm ba tôi liền xách vali đi Tallinn thực tập, kế hoạch sau đó là tháng Mười hai về lại Phần, tháng Hai đi Brno trao đổi. Mai lên năm hai, Lê năm ba, hai đứa vẫn ở Kouvola. Eres, Varg, Bon đã dọn luôn đồ về nước. Valter chuyển về Kouvola vào tháng Chín, nó tốt nghiệp vào tháng Mười hai, nhập ngũ vào tháng Sáu. Nó tự nguyện nhập ngũ một năm vì muốn dành thời gian để khám phá bản thân – sinh viên các nước phương Tây thường gọi khoảng thời gian là ‘gap year’. Nó bảo nó sẽ quay trở lại. Nhưng đó là chuyện sau này. Vì lúc tôi viết những dòng này, nó còn chưa trở lại.

Tháng Mười, tôi bảo với hội cuối tháng Chín sẽ về Kouvola một tuần làm báo cáo thực tập. Mai, Lê và Valter xung phong lái xe của mẹ Valter đi đón tôi. Nửa năm rồi chúng tôi không gặp nhau. Tôi ôm lấy chúng nó thật chặt.

Mùa đông âm 20 độ, chúng tôi chen nhau trong phòng của Mai ở Kuusi, con bé chăn nuôi hai đứa vô gia cư chúng tôi hết một tuần International Week. Còn vì sao Valter không ở nhà Lê, tôi chỉ biết Lê đang ở gần trường, tôi với Mai ở xa cần Valter và cái xe của nó đưa đón. Trong một tuần ngắn ngủi đó, tôi với Mai ôm nhau nằm trên thảm, Valter đắp tấm chăn mỏng úp sấp trên giường đơn cạnh cửa sổ. Đêm tối đèn ba đứa nằm thủ thỉ rồi thiếp đi.

Lê và Mai phải lên lớp đều đặn, chúng tôi hằng ngày đưa Mai đến trường rồi đi dự thính. Đó là lần duy nhất chúng tôi cùng nhau ngồi trong một phòng học, nghe thuyết giảng, thảo luận và ôn chuyện bên lề. Valter bằng tuổi tôi, nhưng ở Nga không có lớp 12 nên nó vẫn hơn tôi một khóa, là tiền bối một thời từng có chuyện tình đẹp đẽ với cô nàng cùng lớp ai gặp cũng yêu. Nhưng chia tay rồi. Chia tay hơn nửa năm sau thì gặp gỡ mấy đứa bọn tôi.

Vào ngày hội thảo thứ năm, cả lũ dậy muộn đi trễ, vào lớp không có máy cạnh nhau, vậy là đứa trên đứa dưới. Được hơn nửa tiết, cô bạn ngồi cạnh Valter vác cặp bỏ đi, anh chàng liền ngoắc tôi bảo xuống. Tôi mặc kệ. Nó lạnh mặt. Cả ngày hai đứa ngó lơ nhau. Cuối chiều lúc bắt đầu tiệc Potluck, chúng tôi tách nhau ra, đường ai nấy đi ăn ở các quầy hàng khác nhau để nuốt dần cục tức. Nó chụp hình với các em gái của nó. Tôi xã giao với các anh bạn cũ của tôi. Mai thay vào bộ áo dài truyền thống Việt Nam, ít lần nào tôi thấy con bé duyên dáng, dịu dàng, đáng yêu đến thế. Lê thì mải chụp ảnh, phỏng vấn cho tờ báo trường. Tối về nhà Mai, bốn đứa ngồi quanh cái bàn tròn uống rượu. Valter ngà ngà say vẫn nhất quyết lái xe chở Lê về nhà. Hai đứa con gái cản, nhưng nó bảo nó biết chừng mực, đưa Lê về rồi nó quay lại thật. Chúng tôi nghĩ, phải chi có Varg, có Eres, có Bon ở đây như hồi trước. Chỉ có điều, chuyện yêu xa của Mai và Varg chẳng mấy tốt đẹp. Thành ra tôi càng chắc mẩm với bản thân, người yêu có thể không cần nhưng bạn thì không thể thiếu.

Sau ngày hôm đó, tôi để Mai nằm cạnh giường, tôi ôm chăn lăn vào góc. Tôi cũng không ngồi trên ghế phụ nữa, đợi Mai lên trước, rồi chui vào ghế sau, xem Valter như lái xe thuê. Chúng tôi cứ lặp lại cái điệp khúc đi lạc của chàng hôm lên đón tôi ở Helsinki. Đi ô tô từ Helsinki đến Kouvola chỉ mất hai tiếng rưỡi, chúng tôi lên xe lúc bảy giờ tối mà mười một giờ đêm mới về đến trung tâm. Mệt rũ người chỉ vì lên nhầm cao tốc. Nhưng vui. Nó bị chọc quê cũng không thèm chấp. Từ dạo đấy, tối đối xử với nó sao, nó cũng đối xử với tôi như thế. Chúng tôi bắt đầu kiếm những mảnh tình riêng.

Tháng Mười Hai hết đợt thực tập, tôi về Phần và ở cùng phòng với Mai trên tầng ba. Valter chuyển vào căn nhà tầng một. Ngày 22 cuối năm Mai đi du lịch, Lê đi chơi, tôi quyết định đi thăm em gái. Sau đợt International Week, Valter quen bạn gái mới, nhưng không về Nga nghỉ lễ với con bé. Ngày 23, tôi gõ cửa nhà Valter bảo tao đi du lịch đón năm mới đây. Nó ngạc nhiên, sao mày bảo mày đón năm mới ở đây? Tôi ừ, thì tao lên chỗ em gái đón năm mới chứ có ra nước ngoài đâu. Nó xụi lơ, bảo thế mà không nói rõ. Tôi bảo, tao tưởng mày về Nga chứ. Rồi nó giục tôi ra bus.

Đêm Noel, Valter nhắn tin lên hội bày tỏ sự cô đơn, trách móc rằng cả khu nhà chẳng có con ma nào cả. Hội an ủi chọc ghẹo nó một hồi rồi xếp hàng đi ngủ. Tối ngày 30, tôi vừa nấu ăn với em gái vừa xem tin nhắn trên hội. Nó nói, chúng mày không biết đêm giao thừa ngồi một mình trong nhà coi phim, ăn gà nướng cô đơn biết bao nhiêu đâu. Tôi vẫn ở lại đón năm mới với em gái. Vừa tàn tiệc đêm 31 thì tình cờ gặp anh bạn khóa trên, vậy là hai đứa hẹn chiều hôm sau đi trả chầu cà phê hứa hẹn từ hồi tôi còn ở Tallinn thực tập. Tôi ừ vui vẻ. Đi đốt pháo bông với gia đình xong, hội nhắn tin chúc mừng năm mới. Đợi mọi người chào nhau đi ngủ cả rồi, nó vẫn liến thoắng một mình trên hội. Nghĩ một hồi, tôi liền đặt vé tàu về Kouvola, để lại một cái tin nhắn: “Mùng Một em phải về Kouvola có chuyện gấp, thật xin lỗi chắc phải hẹn anh lần khác.”

Mùng Một, Tôi về đến Kuusi là sáu giờ tối. Sau khi gõ cửa nhà Valter đòi nó làm bữa tối, tôi đói rã rời lết lên nhà Mai cất hành lý. Tối đó và cả một tuần sau, tôi với Valter, hai con người cô đơn ở Kouvola mỗi tối đều nướng gà làm bánh, gác chân lên bàn cùng xem phim. Nó xem tôi như hầu gái. Tôi xem nó như hầu trai. Hễ mở miệng là đánh cãi chửi nhau, không đứa chịu thua đứa nào cả. Thứ hai nó bảo muốn ăn tiramisu, tôi không làm. Hai giờ sáng người ta gọi nó đi làm thêm, trước khi đi nó bảo tao luôn nhớ vị tiramisu lúc cả hội cùng ăn ngày trước, “Mùi vị đó là tuyệt nhất rồi, sau này không tìm đâu ra được.” Tôi mủi lòng, sáng thứ ba đi chợ về làm bánh. Tối thứ ba nó bảo nó muốn ăn salad, tôi bảo ừ, thế trưa mày ngủ dậy thì lên nhà tao ăn. Nó gật gù, hai đứa vừa ăn tối vừa xem phim, ăn tối xong vẫn tiếp tục xem phim, mà còn là phim kể về xã hội đen của Nga vài chục năm về trước, màu sắc cũng cổ hết mức quá đáng rồi, không hiểu nó kiếm đâu ra nguồn để tải. Xem hết phim, nó lại mở hài kịch thời Xô Viết, toàn hình trắng hình đen để giới thiệu với tôi về văn hóa nước nó. Tôi phải gật gù công nhận rằng các màn pha trò vô nghĩa cũ kỹ này thú vị hơn hẳn bộ phim mafia trước. Khi điện thoại của nó báo hai giờ sáng, tôi mới biết hai đứa đã ngồi hihi haha suốt sáu tiếng, tuyết ngoài trời đang rơi, cánh tay nó đang vắt qua ghế sofa, còn tôi thì đang tựa đầu vào đấy.

Hai mắt nhìn nhau, nó trầm giọng bắt chước ông mafia trong phim, “We should have sex.” Tôi cười ầm lên bảo, “Yeah, have sex with yourself. I’ll leave you and you alone,” rồi đứng dậy đi rửa chén. Nó vào phòng mặc quần áo đi làm, tôi ở ngoài hét lên, “Khẽ thôi Valter, tao không nghe thấy gì đâu! Á á! Ha ha ha.”

Nó thay đồ xong tựa vào tường bếp nhìn tôi cười cười, bảo, sao nãy bắt tao rửa cơ mà. Tôi không quay đầu nói với nó, mày bẩn quá tao chịu không nổi. Nó cười phá lên, thế mày tiện tay rửa hết đống chén bên cạnh đi nhé. Tôi quay đầu bảo nó, “Cút!” Nó haha nhét chìa khóa vào túi, nói: “Mày cứ vào phòng tao ngủ, nhà Mai chẳng có ai đừng lãng phí điện nước. Mấy hôm nay tao đều ngủ ở sofa,” rồi nó chỉ vào hai tấm chăn mỏng và ba cái gối kê đầu trên ghế.

Tôi bảo không, bạn gái mày hiểu lầm thì bỏ xừ mày nhé. Nó nhét khóa vào túi, đùa dai, “Tao cầm khóa nhà mày rồi mày phải ngủ ở đây thôi,” rồi nghênh ngang rời đi. Tôi chạy ra chặn cửa lạnh mặt đòi chìa khóa, nó đưa tay ra rồi nói, “Đi làm về nhà cửa lạnh lẽo lắm.” Tôi đi vào bật công suất tấm sưởi cao nhất, nghĩ thầm, nhà sinh viên ai bắt mày trả tiền điện nước.

Nó mở cửa đi, trước khi ra ngoài còn trưng cho tôi bộ mặt nịnh nọt. Tôi ném cái gối về phía cửa, xem nốt bộ phim, hết phim đã là năm giờ sáng. Tôi vào phòng nó lấy thêm chăn bỏ ra ngoài ghế rồi đi ngủ. Lúc mơ màng nghe tiếng chìa khóa lạch cạnh, tôi biết nó về rồi, còn nghe nó giũ tuyết khe khẽ. Nó đẩy cửa vào phòng, cười khì, ngồi xổm trước giường, tôi vẫn quay mặt vào tường giả vờ ngủ. Nó lầm bầm nói hai một câu. Tôi chỉ loáng thoáng nghe được một câu nó nói. Sau đó, nó dém chăn dưới chân tôi rồi đóng cửa. Trời tối đen, tuyết rơi trắng cả trăng, đường bị bão lấp đầy. Tôi nghĩ, trong nhà ấm áp biết bao.

Những ngày sau đó chúng tôi làm ổ ở nhà Valter với lịch trình bất dịch. Trưa dậy tôi lên nhà làm vệ sinh cá nhân, đi chợ về liền lôi nó dậy chí chóe, ăn tối, chọn phim, cãi nhau, gửi tin nhắn cho Hội, xem phim; rồi nó đi làm, tôi rửa chén, đi ngủ, trưa tỉnh giấc thấy nó đã lăn vật ra sofa kệ thây cả thế giới rồi.

Một hôm, tôi vùng lên đòi xem phim chiếu rạp, nó chịu thua không xem phim Nga cũ nữa. Tôi không chịu xem khoa học viễn tưởng, nó liền tìm phim miền viễn Tây, tôi lăn vật ra đòi xem phim Disney do hồi đấy Maleficent đang rõ nổi. Nhưng tôi nhấn nhá sai, nó ngồi nửa buổi hiểu tôi muốn xem cái gì, lúc sau thì à một tiếng, sửa miệng tôi, tôi dỗi. Nó lại giương cờ tải phim về nịnh nọt. Những lần sau đó nó chọn toàn phim hoạt hình, phim trinh thám, tâm lý xã hội, Hank Palmer, vân vân, nhưng tuyệt đối không dám mở phim kinh dị.

Trước hôm Mai về, tôi hỏi nó lúc hai đứa đang làm cơm tối, tốt nghiệp rồi sao còn ở Kouvola? Nó bảo tìm việc, tôi nghĩ tìm việc thì tìm ở Helsinki, ở Saint Petersburg, ở Moscow, về cái tỉnh sinh viên này làm gì, nhưng tôi không hỏi. Tôi đặt tô salad trước mặt nó, nó nếm thử rồi hỏi tôi cá ngừ trong salad này là gì thế, ngon ghê. Tôi bảo đồ hộp, nó ừ, bảo, “Ý tao là hiệu gì, chứ đời nào mày làm được sốt ngon vậy.” Sau đó tôi cắt phần salad của nó.

Mai đi du lịch về, chúng tôi ăn tối ba người rồi mỗi đứa ôm một laptop, ngồi gác chân lên bàn, uống bia, lại khoe khoang với Hội. Ba đứa chúng tôi làm gì cũng có nhau, kể cả hôm bạn gái Valter cãi nhau với nó, tôi với Mai cũng ngồi ngoài cửa nhà dỏng tai hóng hớt. Chuyện xảy ra ngay trước khi kỳ nghỉ lễ kết thúc, lúc bạn gái Valter vừa về từ Nga.

Hôm bạn gái nó đến nhà, tôi với Mai đang ngồi ăn bánh, xem Võ Tắc Thiên. Nó đang bỏ gà vào lò thì chuông cửa reo tới tấp. Tôi với Mai cứ dán mắt vào màn hình, nó đành ra mở cửa. Lúc bạn gái nó bước vào nhìn thấy chúng tôi, Mai đánh mắt ra hiệu, may mà có tao ở đây nhé. Còn tôi thì nghĩ, may mà mới có bảy giờ tối, trễ tý nữa thì không kịp nướng thêm gà rồi. Ăn xong bữa cơm, hai bọn tôi chuồn lẹ. Hai ngày sau, tôi với Mai ngồi cả nửa buổi ngoài cửa chỉ nghe thấy bạn gái nó hét lên một câu, “He said you cheated on me!” Chúng tôi ra hiệu cho nhau im lặng rời đi.

Tối muộn, nó nói với hội nó chia tay rồi, hội nhẹ nhõm thay cho nó. Ai cũng biết chúng nó sớm muộn cũng hỏng vì mối tình bốn năm với nàng thơ. Tôi thì biết vì câu nói của nó đêm hôm đó mà biết được. Nó bảo, “…I don’t really like her though.” Sau này Mai nghe ngóng ở đâu mới bảo tôi, có một lần anh hàng xóm thấy tôi xách túi đi chợ vào nhà Valter. Đó là hiểu lầm, nhưng Valter không giải thích, tôi cũng không quan tâm. Nhưng bởi vì chuyện đó, tôi càng quyết tâm treo cho nó tấm bảng “friendzone” to đùng đùng.

Đợt trao đổi mùa xuân tháng đến, anh hàng xóm mới từ Brno hay mời cả hội sang ăn bánh mỳ ‘homemade’. Biết tôi cuối tháng cũng đến Brno exchange, chàng vui như mở cờ, ăn uống gì cũng gọi nhà tôi sang. Một hôm ngồi uống bia, nói chuyện tâm tình rồi trót dại chơi ‘Truth or Dare’, tôi với Valter liên tục bị chọn trúng, Mai liền quyết tâm đào hết tâm tư của hai đứa. Valter bảo thích tôi từ cái hồi tháng Tư tháng Năm nào đấy. Tôi đi từ ngạc nhiên đến bàng hoàng, nửa thật nửa đùa nói ra tao cũng thinh thích mày đấy, “body chuẩn thế mà.” Mai gật gù cảm thán, “Ai cũng hiểu, chỉ hai người không hiểu.” Đến lượt mình, tôi hỏi nó:

  • “Thế mày còn thích tao không?”
  • “Không.”

Tôi đập bàn, “May quá, tao cũng thế!”

Sau đó, tôi hẹn hò với anh Brno, được hai tuần liền phủi mông sang Séc. Trước ngày bay, tôi phải sang Stockholm để làm giấy phép cư trú ở Séc. Tôi bay qua bay lại cả ngày, gần mười một giờ đêm mới về đến Kuusi. Đêm hôm đó cả lũ nhậu đến sáng. Tiệc tàn, tôi với anh Brno ngồi lại nói chuyện. Tôi bảo, em không muốn yêu xa, mình đừng hẹn hò nữa. Anh cũng ừ, sau này hãy gặp lại. Hai đứa mệt quá liền thiếp đi. Chiều ra ga tàu đi sân bay, chỉ có Mai, một bạn người Phần đang theo đuổi nàng và anh Brno đi tiễn. Lúc xách hành lý của tôi lên tàu, anh kéo tôi lại, hai đứa hôn tạm biệt, tàu đóng cửa, tôi thấy Mai khóc, tôi cũng khóc ầm ầm. Chẳng nhớ vì sao Valter không ở đấy, có thể là nó đã về Nga, có thể là nó kiệt sức ngất đi sau bữa tiệc, tôi quên mất rồi. Có thể là vì tôi không hỏi.

Tôi đi exchange trở về thì nó đã nhập ngũ và có bạn gái mới. Ngày đó thời tiết vào hè, tôi bất chợt nhớ đến nó lúc đi ăn, lúc ngắm bầu trời, lúc nhìn người đi bộ, lúc được một chàng bắt chuyện trên đường. Ngày hạ chí, ngày càng dài, lòng người càng rộng; tôi nhớ chúng nó ghê gớm. Lúc đó tôi nghĩ, mình tiêu rồi.