My lonesome sweetheart

My best friend, she turned 23 just yesterday.

We’ve been chatting with each other for a decade, even when we were more than eight thousands miles apart. I can tell you everything about her, she can describe my facial expressions on the phone, even to the sightless winkle on my forehead. We were so close that we can hear each other crying over through the eyes.

Her father is in the final stage of cancer. Her brother just got married to a Korean woman, he moved away for his job. Her mom is getting old. And my sweetheart, she fall in love with a girl.

She’s never cried in front of me,  for so long that I could remember. She’s never got so pessimistic with her life, even to the worst of time. But there was one day she called me at dawn, saying: “I’ve just told my father about his condition, that he only has a few days left. Maybe two, or four.”

“Today is my mom’s birthday. My brother and sister-in-law left for Korea. He hugged me and asked if I could tell him (her father) about the truth. He said I’m the strongest one in the family. He believes in me. He cried a lot.” She stopped for a silence. “I think I’m a bit overwhelmed. I want to be alone so don’t be panic if you can’t find me. I won’t die, you know.”

I said yes. “I got you.”

We have a lot of things in common. Our moms was born on the same day, we somehow look alike, we admit our weaknesses to no other but us. The only thing different is she always ahead of me, her heart and her mind are more distanced than mine. Perhaps you know what I mean.

Up until yesterday, her birthday was about to passed, I made a call, starting with “Hei, where have you been. It’s your birthday.” She didn’t say anything a few seconds after. She cried.

I asked, “Why didn’t you call (me)?” She said, “We all have our own problems, I know you’re suffering, too. Honestly, I really miss you.” She was up to the next bus to another city. She’s always few steps ahead of me but we’ve never been distanced like this, even to the oldest time we were once apart. Perhaps, that’s what adulthood is like. We hide many things unspoken underneath our skins, not letting anyone touch it. We’re only open about it when everything’s been solved, or been forgotten; or to the stranger whom we met on the street, the people who can’t pity us.

“She’s on a Friday Night Express
She got her nails done and a brand new dress
She got a secret in her eyes that even make-up can’t disguise
And all that matters is right now”

Tình yêu là một điều kỳ diệu

Love is a miracle.

1.

Người ta nói tính cách của bạn thay đổi khi bạn sử dụng một ngôn ngữ khác. Đó là thật. Và vì đây là một câu chuyện khó nghĩ với người Việt nên mình xin được kể bằng tiếng Anh.

My friend, she fell in love with a man who was 40 years older than her. They lived together for a year before he passed away. Their world has only love.

When he’s gone, they were 8 thousands miles apart.

He left everything behind to move to Vietnam with her, including an estate, a business, money and his second wife. She said, “Love is unspeakable. We’ve never thought of falling for each other and moving in like this. To make this decision, we wasted a lot of time for sorriness, worry, fear, greed, and disbelief. But in the end, we did have that wonderful year, a year that I’ll cherish till the last morning that I wake up. I’d never regretted, and so had he. It only make us grow stronger, and every single minute we had was even more beautiful.”

“One day you will understand. We have many lives, we don’t remember doesn’t mean it doesn’t exist. But even if there’s an afterlife await, you are still a different you. You can’t never be ‘you in this life’ ever again. So live true to that, no matter what you will be in your next life.”

I asked her, “So what about sex? Was everything okay because of his age?” She was traumatized with sex abuse during her teenage but there were nobody to help.

“We did. He said sex does not come from your body. It’s your mental state. I didn’t have any problem with him about that. He understood that trauma. He sympathized with me.” Then she told me about the night they hugged and kissed and made love under the fireworks – the New Year Eve by their apartment’s window was just so warm.

Last night, she woke up to the first firework of the year, she thought it were all dreams. But it’s not.

2.

Chuyển lên Sài Gòn, cuối tuần về Vũng Tàu tôi không còn đồ mặc, hẹn bạn đi chơi, tôi lựa luôn một chiếc váy voan suông của mẹ. Từ dạo đấy về tối, mẹ thường đứng trước tủ quần áo lục lọi thứ gì, một chốc lại lôi ra gần chục bộ bảo tôi thay, bảo mặc được cái nào mẹ cho (tôi mừng húm). Dăm ba bữa chẳng sao, nhưng cả tuần liền ngày nào mẹ cũng muốn tôi thử đồ của mẹ, mắt mẹ sáng long lanh như sao, tôi mệt rũ người cũng cười cười thích chí. Tôi bảo, “Mẹ sinh con khéo ghê, đứa thì xinh, đứa mặc gì cũng đẹp!” Mẹ vui vẻ cười híp cả mắt.

Buổi sáng lúc dắt xe ra khỏi nhà, vừa khởi động máy xe tôi vừa nghĩ muốn sinh con gái, diện đồ cho nó, mặc chung đồ với nó, để nó lấy chồng trong chiếc váy cưới mẹ nó từng mặc.

Không thèm cũng kệ.

3.

Tôi rất thích đọc sách. Tản văn, du ký, ngôn tình.

Hồi học cấp ba tiền mẹ cho quà vặt tôi đều để dành mua sách. Nhưng đó là lúc còn thơ, chưa phải vật lộn kiếm tiềm tự nuôi sống mình ở thành phố khác. Lúc chuyển lên Sài Gòn, tuần nào tôi cũng về chơi với mẹ, để mẹ thấy con đỡ nhớ, đỡ lo. Tôi ở Phần bốn năm mẹ chẳng thèm hỏi han ăn ở, lúc nhớ quá cũng ráng quên đi, sợ chúng tôi mủi lòng bỏ hết công ăn việc làm về với mẹ. Nhưng cuối cùng tôi cũng về, không đâu bằng nhà mình cả. Bốn năm thả rông cuối cùng cũng bắt lại được vào tay, cái gì mẹ cũng muốn nhắc, muốn lo. Con gái trong mắt người ngoài thì sừng sững như chân chùa Một Cột, mà trong mắt mẹ thì chỉ bé như hòn bi ve, chỉ muốn thấy nó lăn ra trước mặt.

Vậy nên khi tôi quyết tâm lên Sài Gòn vùng vẫy, mẹ lo thắt cả ruột gan, sợ môi trường, sợ con người, sợ ăn ninh, sợ đồ ăn thức uống, sợ gầy, sợ mập, sợ đen… Tôi muốn tự trang trải cuộc sống, mẹ sợ tôi thiếu tiền, không biết chi tiêu, thấy tôi mua cuốn sách lại sợ tôi không đủ tiền ăn. Mắt mẹ cứ mờ mờ nước. Tôi không nỡ nhìn, cũng không nỡ cãi.

4.

Mẹ tôi rất giỏi. Lúc cái Linh chín tuổi, mẹ đang bán hàng, nó ôm chầm lấy mẹ từ phía sau, bảo mẹ: “Nếu mẹ thương con thì mẹ bỏ cái lão ấy (ba) đi.” Vậy là mẹ bỏ, gánh luôn nửa số “gia tài” ông ấy tích góp sau bao năm ăn xài đổi lấy tờ giấy đơn ly hôn. Đưa luôn cho ông căn chung cư mới đầu tư và bán một gian nhà phía sau để giữ lại căn nhà mà chúng tôi đang ở.

Lúc tôi sang Phần, mẹ còn rất khó khăn. Lúc Linh đi thì tài chính đã dễ thở hơn một chút, nhưng mẹ vẫn cần vay nợ ngân hàng để làm ăn. Vì nhiều lẽ mà từ nhỏ hai đứa tôi đã ít nói, không nói thừa ra một chữ bao giờ.

Khi mới hiểu nhiều chuyện hơn, đứa nào cũng chăm chăm tìm cách đỡ đần chi phí cho mẹ, muốn độc lập tài chính, muốn xây cho mẹ một cửa hàng nội thất bán mấy thứ đồ nhà bếp xinh xinh, muốn giúp mẹ trả nợ, để mẹ có tiền tiết kiệm lúc về già. Nhưng dù con có 22, 29, hay 30, thì trong mắt mẹ con vẫn là hòn bi ve bé hơn hột nhãn.

Mẹ tôi nuôi con tốt lắm, ngay cả khi khó khăn chúng tôi cũng chưa phải chịu thiệt bao giờ.

5.

Chị họ tôi 28 tuổi, độc thân, giỏi giang, xinh đẹp, cao số* . Mẹ vào Nam với bác ruột của tôi năm 20 tuổi, lấy chồng lúc hăm hai, sinh con đầu lòng lúc 23. Tức là bằng tuổi tôi bây giờ mẹ đã bầu bì gần năm tháng, còn tôi giờ vẫn lạch cạch gõ chữ đêm khuya bên cạnh mẹ.

*Mẹ tôi bảo cao số là khó lấy chồng, con gái họ nhà mình (nhà ngoại) đứa nào cũng có cái số rất cao.

Ngày đó chị Mai còn bé, hai dì cháu rất thương nhau. Khi mẹ lấy chồng chị Mai nhớ mẹ lắm. Sau khi sinh cái Linh, mẹ tôi khổ đủ đường vì nhà chồng, toàn người nhà quê chỉ nghe nhau kể, bênh con bênh cháu chứ chẳng bao giờ nghĩ đến con dâu. Ngày đó chị Mai còn bé, thấy dì cứ về nhà là ôm chầm lấy chị tôi, khóc. Chị ghét ba tôi. Ghét cay ghét đắng. Chị thương mẹ bao nhiêu, thì ghét đay ghét nghiến nhà nội tôi gấp mười.

Hôm qua chị họ đến nhà chơi, mấy dì cháu quay quần ngồi kể chuyện. Hôm nọ cả nhà ăn cơm, chị kể chuyện ở công ty chị có người xấu chị không thích, nhỏ em họ mười mấy tuổi ngồi kế bên nghe lỏm được nửa câu chuyện, chạy lại mách chị Hai: “Chị cứ mua thuốc diệt chuột về hòa với nước, mời nó lên uống nước mỗi ngày là nó sẽ biến mất không dấu vết, không ai biết chị làm!” (Chắc vì nhỏ đọc “Thám tử lừng danh Conan” nhiều quá hay sao). Chị bảo, hình như trẻ con nó chỉ có mỗi cái trò đấy hay sao á dì. Hông biết ai chỉ mà ngày xưa con cũng cứ suốt ngày bày mưu tính kế để tìm cách giúp dì hủy diệt (?!) cái lão ấy cho dì bớt khổ. “Dì cứ mua thuốc chuột về cho nó biết…”

Tôi không thể nhớ ra lúc mẹ khóc trông thế nào. Chỉ nhớ rằng ký ức đầu tiên của tôi là tiếng kêu gào, tiếng két bia rơi loảng xoảng, tiếng người, tiếng hàng xóm, tiếng máu, tiếng câm. Bà cụ đứng trước cửa phòng la mắng mấy câu không ngăn được cuộc cãi vã, trở về giường; buồn, và bực. Tôi với em gái nằm bất động, kéo chăn chùm kín đầu, vờ như đang ngủ rất say, để sáng hôm sau không ai phải nhắc lại chuyện đó. Khi ông ấy ra khỏi nhà, tôi mới xốc chăn, rụt rè đến bên cạnh mẹ. Cạnh miểng chai và căn nhà đổ vỡ.

Mười một năm. Bốn ngàn không trăm năm mươi giấc mơ tôi không thể mở mắt.

Thế nhưng chúng tôi chưa bao giờ thấy mình bất hạnh. Cuối cùng thì tuổi thơ cũng đã êm đềm, mẹ chưa để chúng tôi phải thiếu thốn tiền bạc hay tình thương bao giờ.

6.

Và lại một câu chuyện khác bằng tiếng Anh.

My 2-year roommate, she’s two years older than me and much more mature than me. She’s an artist, a designer, and a mom. Nobody would think she’s gonna get married at the age of 24. Well, you think it’s normal, but that because you don’t know her.

She’d never been single, but always a full-time single free-spirit with a voice that I’d love till the very last echo. She’s a sweet loner.

She’s full-time dreamer, a pragmatist at the same time. She’s complex, conflict and contrast. She was having a hard childhood. She was not any victim of sex abuse, or was about to be, but luckily destiny favored her most. But she witnessed everything dark, disgusting, and haunting in that orphanage. That left her scars, at the same time taught her how to love, how to be braver and more protective to self.

She loved her father the most – they were distanced by her mom because of divorce. He passed away just few months after her moving to Finland, she was the last one to be announced of the death.

When he’s gone, her mom made a few calls to my number, not knowing her phone had got broke so I’d lent her mine. Then, I was the one who heard the sound of her father’s funeral at night, not knowing it wasn’t a frank. I told her about the weird calls I kept receiving, we made some silly jokes and forgot about it. A week later, her mom called me for the bad news, making me promised that I wouldn’t tell anything about this until she’d completed her degree, and kindly asked me to take care of her. In fact, she was the one who took care of me, and she still had her degree unfinished. She left school when I was on exchange, and returned home. Then she knew he was not on any business trip to wood manufacturers abroad. He was in heaven.

One year later when I came back to Vietnam, she’d already had a job and a husband-to-be. They got married, got a child. Everything in the past was left in the unknown. Nobody knew what was happened upon her return, and no one spoke of it. She turned out to be a total different person, more gentle, softer, in a good way maybe. Now she’s a mom. Her daughter’s father loves her so much that I’ve never seen her stop smiling. With love.

And so I wish her a happy ending forever after. With love.

7.

My friend is a gay. His family knows nothing about it. His parents work in the government, as so you know, he can’t come out. Just few days ago, he told his father about his sexual orientation. His father sighed in silence, and came back to him few days after. He spoke to him in a gentle voice, “Son, I think we need to see the doctor. Perhaps some hormones might help.”

My friend remained silent. He told me that, “There are many kinds of love, yet we only witness 2 kinds. You love someone for who they are, like you and me; and you love someone but attempting to fix them as you think they’re… false. In the end, we all got hurt.” 

For me, there are only 2 kinds of love. You love somebody with freedom or a heavy heart. You neither give them the power to stand on their feet nor be a control freak.

All are love.

Cụ Tôi

Năm 2014 tôi về nghỉ hè, trước đó một hai tháng cụ bệnh nặng một lần làm cả nhà sợ chết khiếp; tôi vừa về đến nơi thì cụ liền khỏe lại; thân xác cụ gầy gò ốm yếu nhưng ý cười trong mắt chẳng tắt bao giờ. Gặp tôi cụ than thở người cụ đau nhức lắm, khổ sở lắm, không biết bao giờ con rể (ông nội tôi) mới đến rước cụ về trời; tôi liền sấn lại bóp tay bóp chân bóp vai cho cụ, cụ để tôi xoa bóp một chút xíu rồi bảo thôi. Cụ sợ cháu mỏi tay thật hay tay nghề của tôi vụng về không biết nữa. Continue reading “Cụ Tôi”

Một Mùa Ta Đã Thương Nhau

Chiều tháng Chín, Helsinki bước vào mùa đông, người qua đường đạp lên nước trên gạch, bẩn và lạnh. Tôi đến cảng vào giờ tan tầm, đại lộ đông như mắc cửi, tram chật kín người; người già ngồi nói chuyện, người trẻ đứng cười đùa, người cần tránh mưa, người thì thơ thẩn. Bầu trời thì xám xịt nhưng ai cũng tự giữ một sự vui.

Tram dừng trước cửa khu thương mại, tôi kéo vali băng qua vạch kẻ đường, tóc tai bay tán loạn, cây dù oặt ẹo bị gió đánh gãy một, hai khung làm ướt một bên vai; tôi cứ thế lao vào lòng đường để hạt mưa bé con con rơi đầy vào mặt. Bước vào tòa nhà thương mại, tôi liền trông thấy một nhóm ba người quen thuộc. Quăng dù xuống đất, tôi lao vào lòng chúng nó, bụng kêu rột rột. Cả lũ cười phì.

Bốn người chúng tôi ôm nhau thật chặt. Tôi phải dang rộng tay và nhón chân lên cao để hai đứa thấp hơn không bị ngộp thở. Một hội bảy đứa có gần nửa là học sinh trao đổi từ Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha, Nga, còn lại chúng tôi ba Việt, một Nga là sinh viên chính quy. Chúng tôi gặp nhau ở Kouvola, uống bia ở Kouvola, đánh nhau ở Kouvola, và chia tay vào một ngày ngắn ngủi.

Sau chuyến du lịch vào đầu tháng Năm, hội exchange tan rã, đứa nào phải về nước thì về nước, đứa nào về thăm nhà thì về thăm nhà. Chúng tôi mỗi đứa vài vali bay một ngả. Ba tháng hè cứ thế trôi qua, tin nhắn của hội vẫn xuất hiện trên Messenger đều đặn. Chúng tôi nói về tất thảy mọi chuyện linh tinh, như là có một quán Việt mới mở ở Brno; đêm nay tao nhớ chúng mày lại mất ngủ; mày xem bài báo này chưa; mày có nhớ chuyện này chuyện này chuyện kia không; ừ, hồi đấy vui thật; thằng này còn ‘made out’ với con kia trong bar nhé; một hôm thằng kia uống say còn dọa bọn con nít nữa nhé; có đứa thì lôi lôi kéo kéo tao bảo là “Mày thích tao” đấy… Sau đó, tin nhắn từ các quốc gia vẫn liên tục được gửi. Cả mùa hè, ban ngày tôi lao vào làm việc, ban đêm trằn trọc muốn bay ngay về Phần. Ngày tôi sắp sang, Valter viết lên tường của tôi trên Facebook: “bạn không gọi và không viết, tôi nhận được khó chịu.”

  • Mày nói cái khỉ gì đấy. Chẳng có nghĩa gì cả. It’s wrong.
  • I don’t care.

Tháng Tám, vừa trở thành sinh vên năm ba tôi liền xách vali đi Tallinn thực tập, kế hoạch sau đó là tháng Mười hai về lại Phần, tháng Hai đi Brno trao đổi. Mai lên năm hai, Lê năm ba, hai đứa vẫn ở Kouvola. Eres, Varg, Bon đã dọn luôn đồ về nước. Valter chuyển về Kouvola vào tháng Chín, nó tốt nghiệp vào tháng Mười hai, nhập ngũ vào tháng Sáu. Nó tự nguyện nhập ngũ một năm vì muốn dành thời gian để khám phá bản thân – sinh viên các nước phương Tây thường gọi khoảng thời gian là ‘gap year’. Nó bảo nó sẽ quay trở lại. Nhưng đó là chuyện sau này. Vì lúc tôi viết những dòng này, nó còn chưa trở lại.

Tháng Mười, tôi bảo với hội cuối tháng Chín sẽ về Kouvola một tuần làm báo cáo thực tập. Mai, Lê và Valter xung phong lái xe của mẹ Valter đi đón tôi. Nửa năm rồi chúng tôi không gặp nhau. Tôi ôm lấy chúng nó thật chặt.

Mùa đông âm 20 độ, chúng tôi chen nhau trong phòng của Mai ở Kuusi, con bé chăn nuôi hai đứa vô gia cư chúng tôi hết một tuần International Week. Còn vì sao Valter không ở nhà Lê, tôi chỉ biết Lê đang ở gần trường, tôi với Mai ở xa cần Valter và cái xe của nó đưa đón. Trong một tuần ngắn ngủi đó, tôi với Mai ôm nhau nằm trên thảm, Valter đắp tấm chăn mỏng úp sấp trên giường đơn cạnh cửa sổ. Đêm tối đèn ba đứa nằm thủ thỉ rồi thiếp đi.

Lê và Mai phải lên lớp đều đặn, chúng tôi hằng ngày đưa Mai đến trường rồi đi dự thính. Đó là lần duy nhất chúng tôi cùng nhau ngồi trong một phòng học, nghe thuyết giảng, thảo luận và ôn chuyện bên lề. Valter bằng tuổi tôi, nhưng ở Nga không có lớp 12 nên nó vẫn hơn tôi một khóa, là tiền bối một thời từng có chuyện tình đẹp đẽ với cô nàng cùng lớp ai gặp cũng yêu. Nhưng chia tay rồi. Chia tay hơn nửa năm sau thì gặp gỡ mấy đứa bọn tôi.

Vào ngày hội thảo thứ năm, cả lũ dậy muộn đi trễ, vào lớp không có máy cạnh nhau, vậy là đứa trên đứa dưới. Được hơn nửa tiết, cô bạn ngồi cạnh Valter vác cặp bỏ đi, anh chàng liền ngoắc tôi bảo xuống. Tôi mặc kệ. Nó lạnh mặt. Cả ngày hai đứa ngó lơ nhau. Cuối chiều lúc bắt đầu tiệc Potluck, chúng tôi tách nhau ra, đường ai nấy đi ăn ở các quầy hàng khác nhau để nuốt dần cục tức. Nó chụp hình với các em gái của nó. Tôi xã giao với các anh bạn cũ của tôi. Mai thay vào bộ áo dài truyền thống Việt Nam, ít lần nào tôi thấy con bé duyên dáng, dịu dàng, đáng yêu đến thế. Lê thì mải chụp ảnh, phỏng vấn cho tờ báo trường. Tối về nhà Mai, bốn đứa ngồi quanh cái bàn tròn uống rượu. Valter ngà ngà say vẫn nhất quyết lái xe chở Lê về nhà. Hai đứa con gái cản, nhưng nó bảo nó biết chừng mực, đưa Lê về rồi nó quay lại thật. Chúng tôi nghĩ, phải chi có Varg, có Eres, có Bon ở đây như hồi trước. Chỉ có điều, chuyện yêu xa của Mai và Varg chẳng mấy tốt đẹp. Thành ra tôi càng chắc mẩm với bản thân, người yêu có thể không cần nhưng bạn thì không thể thiếu.

Sau ngày hôm đó, tôi để Mai nằm cạnh giường, tôi ôm chăn lăn vào góc. Tôi cũng không ngồi trên ghế phụ nữa, đợi Mai lên trước, rồi chui vào ghế sau, xem Valter như lái xe thuê. Chúng tôi cứ lặp lại cái điệp khúc đi lạc của chàng hôm lên đón tôi ở Helsinki. Đi ô tô từ Helsinki đến Kouvola chỉ mất hai tiếng rưỡi, chúng tôi lên xe lúc bảy giờ tối mà mười một giờ đêm mới về đến trung tâm. Mệt rũ người chỉ vì lên nhầm cao tốc. Nhưng vui. Nó bị chọc quê cũng không thèm chấp. Từ dạo đấy, tối đối xử với nó sao, nó cũng đối xử với tôi như thế. Chúng tôi bắt đầu kiếm những mảnh tình riêng.

Tháng Mười Hai hết đợt thực tập, tôi về Phần và ở cùng phòng với Mai trên tầng ba. Valter chuyển vào căn nhà tầng một. Ngày 22 cuối năm Mai đi du lịch, Lê đi chơi, tôi quyết định đi thăm em gái. Sau đợt International Week, Valter quen bạn gái mới, nhưng không về Nga nghỉ lễ với con bé. Ngày 23, tôi gõ cửa nhà Valter bảo tao đi du lịch đón năm mới đây. Nó ngạc nhiên, sao mày bảo mày đón năm mới ở đây? Tôi ừ, thì tao lên chỗ em gái đón năm mới chứ có ra nước ngoài đâu. Nó xụi lơ, bảo thế mà không nói rõ. Tôi bảo, tao tưởng mày về Nga chứ. Rồi nó giục tôi ra bus.

Đêm Noel, Valter nhắn tin lên hội bày tỏ sự cô đơn, trách móc rằng cả khu nhà chẳng có con ma nào cả. Hội an ủi chọc ghẹo nó một hồi rồi xếp hàng đi ngủ. Tối ngày 30, tôi vừa nấu ăn với em gái vừa xem tin nhắn trên hội. Nó nói, chúng mày không biết đêm giao thừa ngồi một mình trong nhà coi phim, ăn gà nướng cô đơn biết bao nhiêu đâu. Tôi vẫn ở lại đón năm mới với em gái. Vừa tàn tiệc đêm 31 thì tình cờ gặp anh bạn khóa trên, vậy là hai đứa hẹn chiều hôm sau đi trả chầu cà phê hứa hẹn từ hồi tôi còn ở Tallinn thực tập. Tôi ừ vui vẻ. Đi đốt pháo bông với gia đình xong, hội nhắn tin chúc mừng năm mới. Đợi mọi người chào nhau đi ngủ cả rồi, nó vẫn liến thoắng một mình trên hội. Nghĩ một hồi, tôi liền đặt vé tàu về Kouvola, để lại một cái tin nhắn: “Mùng Một em phải về Kouvola có chuyện gấp, thật xin lỗi chắc phải hẹn anh lần khác.”

Mùng Một, Tôi về đến Kuusi là sáu giờ tối. Sau khi gõ cửa nhà Valter đòi nó làm bữa tối, tôi đói rã rời lết lên nhà Mai cất hành lý. Tối đó và cả một tuần sau, tôi với Valter, hai con người cô đơn ở Kouvola mỗi tối đều nướng gà làm bánh, gác chân lên bàn cùng xem phim. Nó xem tôi như hầu gái. Tôi xem nó như hầu trai. Hễ mở miệng là đánh cãi chửi nhau, không đứa chịu thua đứa nào cả. Thứ hai nó bảo muốn ăn tiramisu, tôi không làm. Hai giờ sáng người ta gọi nó đi làm thêm, trước khi đi nó bảo tao luôn nhớ vị tiramisu lúc cả hội cùng ăn ngày trước, “Mùi vị đó là tuyệt nhất rồi, sau này không tìm đâu ra được.” Tôi mủi lòng, sáng thứ ba đi chợ về làm bánh. Tối thứ ba nó bảo nó muốn ăn salad, tôi bảo ừ, thế trưa mày ngủ dậy thì lên nhà tao ăn. Nó gật gù, hai đứa vừa ăn tối vừa xem phim, ăn tối xong vẫn tiếp tục xem phim, mà còn là phim kể về xã hội đen của Nga vài chục năm về trước, màu sắc cũng cổ hết mức quá đáng rồi, không hiểu nó kiếm đâu ra nguồn để tải. Xem hết phim, nó lại mở hài kịch thời Xô Viết, toàn hình trắng hình đen để giới thiệu với tôi về văn hóa nước nó. Tôi phải gật gù công nhận rằng các màn pha trò vô nghĩa cũ kỹ này thú vị hơn hẳn bộ phim mafia trước. Khi điện thoại của nó báo hai giờ sáng, tôi mới biết hai đứa đã ngồi hihi haha suốt sáu tiếng, tuyết ngoài trời đang rơi, cánh tay nó đang vắt qua ghế sofa, còn tôi thì đang tựa đầu vào đấy.

Hai mắt nhìn nhau, nó trầm giọng bắt chước ông mafia trong phim, “We should have sex.” Tôi cười ầm lên bảo, “Yeah, have sex with yourself. I’ll leave you and you alone,” rồi đứng dậy đi rửa chén. Nó vào phòng mặc quần áo đi làm, tôi ở ngoài hét lên, “Khẽ thôi Valter, tao không nghe thấy gì đâu! Á á! Ha ha ha.”

Nó thay đồ xong tựa vào tường bếp nhìn tôi cười cười, bảo, sao nãy bắt tao rửa cơ mà. Tôi không quay đầu nói với nó, mày bẩn quá tao chịu không nổi. Nó cười phá lên, thế mày tiện tay rửa hết đống chén bên cạnh đi nhé. Tôi quay đầu bảo nó, “Cút!” Nó haha nhét chìa khóa vào túi, nói: “Mày cứ vào phòng tao ngủ, nhà Mai chẳng có ai đừng lãng phí điện nước. Mấy hôm nay tao đều ngủ ở sofa,” rồi nó chỉ vào hai tấm chăn mỏng và ba cái gối kê đầu trên ghế.

Tôi bảo không, bạn gái mày hiểu lầm thì bỏ xừ mày nhé. Nó nhét khóa vào túi, đùa dai, “Tao cầm khóa nhà mày rồi mày phải ngủ ở đây thôi,” rồi nghênh ngang rời đi. Tôi chạy ra chặn cửa lạnh mặt đòi chìa khóa, nó đưa tay ra rồi nói, “Đi làm về nhà cửa lạnh lẽo lắm.” Tôi đi vào bật công suất tấm sưởi cao nhất, nghĩ thầm, nhà sinh viên ai bắt mày trả tiền điện nước.

Nó mở cửa đi, trước khi ra ngoài còn trưng cho tôi bộ mặt nịnh nọt. Tôi ném cái gối về phía cửa, xem nốt bộ phim, hết phim đã là năm giờ sáng. Tôi vào phòng nó lấy thêm chăn bỏ ra ngoài ghế rồi đi ngủ. Lúc mơ màng nghe tiếng chìa khóa lạch cạnh, tôi biết nó về rồi, còn nghe nó giũ tuyết khe khẽ. Nó đẩy cửa vào phòng, cười khì, ngồi xổm trước giường, tôi vẫn quay mặt vào tường giả vờ ngủ. Nó lầm bầm nói hai một câu. Tôi chỉ loáng thoáng nghe được một câu nó nói. Sau đó, nó dém chăn dưới chân tôi rồi đóng cửa. Trời tối đen, tuyết rơi trắng cả trăng, đường bị bão lấp đầy. Tôi nghĩ, trong nhà ấm áp biết bao.

Những ngày sau đó chúng tôi làm ổ ở nhà Valter với lịch trình bất dịch. Trưa dậy tôi lên nhà làm vệ sinh cá nhân, đi chợ về liền lôi nó dậy chí chóe, ăn tối, chọn phim, cãi nhau, gửi tin nhắn cho Hội, xem phim; rồi nó đi làm, tôi rửa chén, đi ngủ, trưa tỉnh giấc thấy nó đã lăn vật ra sofa kệ thây cả thế giới rồi.

Một hôm, tôi vùng lên đòi xem phim chiếu rạp, nó chịu thua không xem phim Nga cũ nữa. Tôi không chịu xem khoa học viễn tưởng, nó liền tìm phim miền viễn Tây, tôi lăn vật ra đòi xem phim Disney do hồi đấy Maleficent đang rõ nổi. Nhưng tôi nhấn nhá sai, nó ngồi nửa buổi hiểu tôi muốn xem cái gì, lúc sau thì à một tiếng, sửa miệng tôi, tôi dỗi. Nó lại giương cờ tải phim về nịnh nọt. Những lần sau đó nó chọn toàn phim hoạt hình, phim trinh thám, tâm lý xã hội, Hank Palmer, vân vân, nhưng tuyệt đối không dám mở phim kinh dị.

Trước hôm Mai về, tôi hỏi nó lúc hai đứa đang làm cơm tối, tốt nghiệp rồi sao còn ở Kouvola? Nó bảo tìm việc, tôi nghĩ tìm việc thì tìm ở Helsinki, ở Saint Petersburg, ở Moscow, về cái tỉnh sinh viên này làm gì, nhưng tôi không hỏi. Tôi đặt tô salad trước mặt nó, nó nếm thử rồi hỏi tôi cá ngừ trong salad này là gì thế, ngon ghê. Tôi bảo đồ hộp, nó ừ, bảo, “Ý tao là hiệu gì, chứ đời nào mày làm được sốt ngon vậy.” Sau đó tôi cắt phần salad của nó.

Mai đi du lịch về, chúng tôi ăn tối ba người rồi mỗi đứa ôm một laptop, ngồi gác chân lên bàn, uống bia, lại khoe khoang với Hội. Ba đứa chúng tôi làm gì cũng có nhau, kể cả hôm bạn gái Valter cãi nhau với nó, tôi với Mai cũng ngồi ngoài cửa nhà dỏng tai hóng hớt. Chuyện xảy ra ngay trước khi kỳ nghỉ lễ kết thúc, lúc bạn gái Valter vừa về từ Nga.

Hôm bạn gái nó đến nhà, tôi với Mai đang ngồi ăn bánh, xem Võ Tắc Thiên. Nó đang bỏ gà vào lò thì chuông cửa reo tới tấp. Tôi với Mai cứ dán mắt vào màn hình, nó đành ra mở cửa. Lúc bạn gái nó bước vào nhìn thấy chúng tôi, Mai đánh mắt ra hiệu, may mà có tao ở đây nhé. Còn tôi thì nghĩ, may mà mới có bảy giờ tối, trễ tý nữa thì không kịp nướng thêm gà rồi. Ăn xong bữa cơm, hai bọn tôi chuồn lẹ. Hai ngày sau, tôi với Mai ngồi cả nửa buổi ngoài cửa chỉ nghe thấy bạn gái nó hét lên một câu, “He said you cheated on me!” Chúng tôi ra hiệu cho nhau im lặng rời đi.

Tối muộn, nó nói với hội nó chia tay rồi, hội nhẹ nhõm thay cho nó. Ai cũng biết chúng nó sớm muộn cũng hỏng vì mối tình bốn năm với nàng thơ. Tôi thì biết vì câu nói của nó đêm hôm đó mà biết được. Nó bảo, “…I don’t really like her though.” Sau này Mai nghe ngóng ở đâu mới bảo tôi, có một lần anh hàng xóm thấy tôi xách túi đi chợ vào nhà Valter. Đó là hiểu lầm, nhưng Valter không giải thích, tôi cũng không quan tâm. Nhưng bởi vì chuyện đó, tôi càng quyết tâm treo cho nó tấm bảng “friendzone” to đùng đùng.

Đợt trao đổi mùa xuân tháng đến, anh hàng xóm mới từ Brno hay mời cả hội sang ăn bánh mỳ ‘homemade’. Biết tôi cuối tháng cũng đến Brno exchange, chàng vui như mở cờ, ăn uống gì cũng gọi nhà tôi sang. Một hôm ngồi uống bia, nói chuyện tâm tình rồi trót dại chơi ‘Truth or Dare’, tôi với Valter liên tục bị chọn trúng, Mai liền quyết tâm đào hết tâm tư của hai đứa. Valter bảo thích tôi từ cái hồi tháng Tư tháng Năm nào đấy. Tôi đi từ ngạc nhiên đến bàng hoàng, nửa thật nửa đùa nói ra tao cũng thinh thích mày đấy, “body chuẩn thế mà.” Mai gật gù cảm thán, “Ai cũng hiểu, chỉ hai người không hiểu.” Đến lượt mình, tôi hỏi nó:

  • “Thế mày còn thích tao không?”
  • “Không.”

Tôi đập bàn, “May quá, tao cũng thế!”

Sau đó, tôi hẹn hò với anh Brno, được hai tuần liền phủi mông sang Séc. Trước ngày bay, tôi phải sang Stockholm để làm giấy phép cư trú ở Séc. Tôi bay qua bay lại cả ngày, gần mười một giờ đêm mới về đến Kuusi. Đêm hôm đó cả lũ nhậu đến sáng. Tiệc tàn, tôi với anh Brno ngồi lại nói chuyện. Tôi bảo, em không muốn yêu xa, mình đừng hẹn hò nữa. Anh cũng ừ, sau này hãy gặp lại. Hai đứa mệt quá liền thiếp đi. Chiều ra ga tàu đi sân bay, chỉ có Mai, một bạn người Phần đang theo đuổi nàng và anh Brno đi tiễn. Lúc xách hành lý của tôi lên tàu, anh kéo tôi lại, hai đứa hôn tạm biệt, tàu đóng cửa, tôi thấy Mai khóc, tôi cũng khóc ầm ầm. Chẳng nhớ vì sao Valter không ở đấy, có thể là nó đã về Nga, có thể là nó kiệt sức ngất đi sau bữa tiệc, tôi quên mất rồi. Có thể là vì tôi không hỏi.

Tôi đi exchange trở về thì nó đã nhập ngũ và có bạn gái mới. Ngày đó thời tiết vào hè, tôi bất chợt nhớ đến nó lúc đi ăn, lúc ngắm bầu trời, lúc nhìn người đi bộ, lúc được một chàng bắt chuyện trên đường. Ngày hạ chí, ngày càng dài, lòng người càng rộng; tôi nhớ chúng nó ghê gớm. Lúc đó tôi nghĩ, mình tiêu rồi.

Khoảng Lặng Ở Giữa Những Chuyến Xe

Trưa của những ngày vào hè, gió buồn buồn hạ mình vào chùm lá cây xanh mướt, lay lay. Tôi leo lên xe ngồi cạnh bác tài. Xe đi nhanh thì hai tiếng, còn từ từ lướt nhẹ qua từng cung đường bụi thì phải gần ba tiếng trở lên. Người say xe sẽ chọn cách thứ hai, người lên xe vẫn tỉnh như ruồi thì chọn cái thứ nhất. Tôi tuy là công chúa say xe nhưng luôn tin tưởng bản thân sẽ làm nên điều kỳ diệu, chọn cách đi nhanh. Trong xe máy lạnh mở vù vù, mùi trong xe cứ thế xộc vào mũi. Với tay tắt máy lạnh, hạ kính cửa sổ, khí nóng chờ sẵn ngoài cửa hùng hổ xộc vào, khói bụi chen chúc nhau rúc vào cái hộp kín xám xám. Đầu ong ong. Tôi nâng cửa kính, ném cái áo khoác lên trước để che máy lạnh, tranh thủ ngủ trước khi xe chạy.

Xe bon bon chạy.

Chiếc xe giựt lên giựt xuống, người tôi ngả trước ngả sau, bún chả nem với thịt chuẩn bị trôi tuột ra ngoài, mặt tôi tái mét. Tôi cần tìm chỗ dựa, tôi muốn nghẹo cái đầu sang một bên để ngủ và ngăn việc phung phí tô bún mới ăn. Vậy là tôi nghiêng đầu sang phải, lưng dài, vai rộng, độ cao rất vừa. Hoàn hảo.

Buổi trưa tôi hay nghe tình ca buồn mùa hạ. Ừ thì, đơn giản chỉ là vì tôi nghe nó vào mùa hạ nên hiển nhiên nó trở thành những bản tình ca mùa hạ, thế thôi. Mà cũng chỉ có những trưa mùa hạ lặng lờ như này mới khiến người ta thả lỏng, như tôi đây. Tôi nhớ có một bờ vai có thể rút ngắn thời gian, con đường không còn dài và ngày không còn nóng, gió không còn lơ đãng, và trái tim không còn những cô đơn.

Và rồi xe vẫn chạy trên đường, vẫn có những cái giật mình giữa giấc ngủ chập chờn. Cái nắng hè gay gắt ấy đã chẳng có anh. Tôi rũ bỏ chiếc khóa cổng hồn mình để mặc cho giai điệu trôi qua. Tôi thích những khoảng lặng ở giữa những chuyến xe, khi tôi tìm được cho mình một góc bình yên để mở lòng nhung nhớ. Tôi nhớ vòng tay anh. Vòng tay ấy vừa khít một cách dễ chịu, cảm thấy cuộc đời mình thiếu đủ đầy nếu không có vòng tay ôm lấy mình.

Cuộc sống này vốn rất kỳ lạ, điều gì quá cũng không tốt, thứ gì quá cũng không nên. Chúng tôi đã quá tốt với nhau để có thể nhận ra rằng trong tình yêu, quan trọng nhất là tình thân và sự chia sẻ. Ông bà tôi từng nói, về già, người ta sống với nhau không vì tình yêu, mà vì tình thân và nghĩa vụ, vì cuộc sống và nỗi sợ con cái đơn côi.

Vào một ngày anh không còn trên chuyến xe giữa nắng, tôi còn khẽ thì thầm với bản thân rằng, lúc dựa vào anh trên chuyến xe ấy, tôi đã thương anh từ rất lâu, lâu lắm.

Bánh Mì Que

Bánh mì que, to bằng ba thứ ngón chụm lại, giá có bảy ngàn đồng, thế mà khi đưa vào miệng, bánh giòn tan, mùi pate ngọt dài trên đầu lưỡi.

Nắng cứ vào chiều là ba lại đẩy xe bánh mì ra trước cửa trường Thắng Nhì mà bán, con bé ở nhà lủi thủi phụ má phết hết paté vô bánh, lắm lúc thòm thèm lại phết cả paté vào miệng. Nhà con bé có anh trai làm việc bên Hàn Quốc, ấy vậy mà chi tiêu vẫn phải chắt chiu. Con bé hồi mới chuyển từ đô thị lớn về thành phố nhỏ ba năm trước vẫn còn cái cười đời ngây thơ lắm, mà hồi nhà thuê được cái mặt bằng đặt xe bán bánh ngót được hai tuần có lẻ, cái cười đã vướng chút chơi vơi.

Má sinh con bé ở cái tuổi tam tuần hiếm muộn, thử ra, con bé mười bảy tuổi tròn mà má đã có nếp nhăn chắt chiu trên mặt, ba thì từ lúc nào tóc đã có hoa râm. Anh trai hơn con bé chắc cũng chừng mười bảy, một mình nuôi ba má về hưu với con bé còn cập kê tuổi ăn tuổi học. Ngày trước con bé đâu phải lo cái lo cơm áo gạo tiền, ba má đi làm vẫn nuôi con bé đầy đủ, mỗi tháng được anh góp chút lương. Bây giờ cả nhà dựa vào xe bánh mì kiếm thêm chút ít, không bằng được ngày xưa cũng dư dả tiền ăn học. Con bé ngoan, cũng học hành giỏi giang chăm chỉ. Con bé nói, sau này con bé với anh hai sẽ xây cho ba má ngôi nhà thật lớn, rồi con bé mở công ty làm bánh mì que cho ba má đỡ buồn. Má cười thích lắm, gõ đầu con bé nói, chớ không phải mày thích gặm bánh mì que đen giòn vàng rụm đó thôi sao?

Ừ thì, bánh mì que vừa giòn vừa ngọt, mà chẳng giống cái ngọt lịm như chè thập cẩm. Bánh mì que có cái ngọt thơm nhàn nhạt, thêm cái vị pate dính chặt vào đầu lưỡi, tan đều.

Chiều này khách vắng, con bé bắc cái ghế nhựa đỏ lè ngồi trước xe đẩy, ngắm đất ngắm trời, ngắm bóng cây già bên ngôi đền cổ. Con bé thích lắm, con bé thích cái chiều bình yên, không im lặng như đêm con bé hay thức, cũng chẳng vội vàng như sáng con bé hay qua, chiều chỉ là chiều rất nhẹ nhàng như cái tuổi con bé có.

Rồi con bé mê cái chiều, ngày nào cũng ra ngắm nắng giòn rụm hệt như bánh mì que con bé phết.

Rồi con bé mê cái vị nhạt nồng của cái xe bánh cũ, cứ thế ôm chiếc bánh mì ngọt nhạt lớn lên.

Con bé về đến nhà là vội vàng chạy ra xe bánh. Căn nhà cũ đơn sơ trong góc hẻm vẫn còn đó, có ba má là chẳng thấy đâu, chắc ba má đang ở ngoài hàng, chuẩn bị bánh mì que cho con gái mới học về, con gái lại cười tít mắt như cái hồi nó chưa sang xứ lạ.

Cô chạy ngót nửa đường thì cái dừng vô hồn trọn vẹn, xe bán bánh đâu có ở trước cổng trường. Phía đối diện người vào ra nghi ngút khói, là mùi bánh mì que nhưng nào phải của ngày xưa.

“Con bé nhà bán bánh mì que có phải không? Đi năm sáu năm chẳng thấy đường về, dì Bảy cứ nghe mẹ mày khoe mày qua bển học hành giỏi giang, sung sướng lắm, tháng nào cũng ráng vài triệu cho má với bức thư. Dì tưởng mày đi không về nữa, bà vừa đi hơn tháng mới biết đường về…”

Anh trai về trước ngõ thấy cô, gật đầu cười buồn bã. Anh bảo, má không không muốn anh em hay, sợ hai con bỏ dở chạy về khóc má. Nhà mình không phải quá dư dả, trông vào riêng anh với xe bánh, ba má khổ nhưng chẳng thể đến đời con. Ba vì thương con nên không thể nói, ôm riêng mình đơn độc, lẻ loi…

Con bé ngửi mùi bánh mì que ngày xưa ấy, giòn lắm, vàng lắm, hệt như cái con bé hay lén mẹ lấy ăn. Má ôm con bé vào lòng rồi trách, ngày xưa kêu má má sửa mãi không nghe, đi thẳng mấy năm trời giờ về kêu tiếng “mẹ”, đi mấy năm nữa mày có mất gốc luôn không! Cô cười mà trào nước mắt, con biết, con vẫn đang mơ, mơ cái bánh mì que to bằng ba thứ ngón, giá bảy ngàn đồng, bánh giòn tan, paté ngọt dài trên đầu lưỡi, ngọt như tiếng mẹ từng cười, như đời mẹ đã khóc.

Bánh Mì Que, ngọt vị đời rất đắng.

29.7.2011. Tặng bạn tôi là cô ấy

Đã Yêu Anh Như Thế

Cô lớp chín, con đường đi học hằng ngày phải băng ngang qua một con dốc rộng, đứng phía dưới nhìn lên cũng có thể thấy một ngôi chùa lớn. Đi qua con dốc ấy bốn năm, chưa bao giờ cô biết người ta gọi nơi đó là gì, chỉ biết rằng, một buổi trưa nắng nào đó, có hai con người đi ngang qua nhau, thênh thang trên đôi martin trắng. Người con gái trao cái nhìn, không-đời-nào-tôi-thích-anh bởi vì anh cũng nhìn-tôi-y-như-thế.

Anh đeo kính. Không-thích-mọt-sách nha! Continue reading “Đã Yêu Anh Như Thế”

Trung Thu

Ngày nào đường phố cũng lên đèn, nhưng chỉ vào những ngày đặc biệt mới mang cho người ta cảm giác mênh mang khó tả. Hay là vào những ngày đặc biệt như thế, những khu đất trống thường ngày tối om mới chịu lay mình mặc vào những màu nóng ấm?

Thật chẳng bù với cơn gió sắp sửa sang Đông.

Tôi cất xe vào nhà, tắm giặt cho sạch cái cơn mưa đầu năm học. Mẹ đặt lên bàn một chiếc bánh cắt sẵn, bánh trắng, dẻo, ngọt, và thơm như cái thứ dầu mẹ hay xoa. Tôi nhấc lên, ngửi vị thơm của bánh, cắn ra một chút ngọt bùi.

Nhớ ngày còn bé con con, tôi chờ đến Trung Thu chẳng phải để ăn thứ bánh mỗi mùa này mới có, mà để xin mẹ mua cho cái lồng đèn lung linh. Đêm đến ta tắt điện chơi trăng, miệng lẩm nhẩm hát một bài tôi được dạy từ lâu lắm. Thu hiu hiu thở hắt ra cơn gió, chẳng thổi tắt nổi ánh nến trong đèn.

Lớn hơn chút nữa, tôi biết nhìn trời, nhìn trăng, nhìn xem có phải ở đó có chú Cuội già mà mẹ tôi kể. Cứ Rằm là mặt trăng có một cái cây rất to, tán cây vươn sang đến tận nửa bên kia thế giới. Nhưng cây trên Mặt Trăng không xanh như những cây đa khác. Đa Mặt Trăng đen sì, mặc dù trăng thắp đèn rất sáng, soi rõ cả những vì sao đỏ đỏ hồng hồng. Lúc đó tôi chỉ chăm chú tìm chú Cuội ngồi dưới gốc đa. Chẳng biết Cuội một mình Cuội có thấy cô đơn? Nên mỗi lần ngắm trăng, tôi đều nhìn cây đa, tìm Cuội. Tôi ngắm mãi ngắm hoài, mẹ gọi vào ăn bánh ta cũng mặc. Ngày ấy tôi chê bánh Trung Thu chẳng thấy ngon chút tẹo. Ngày còn bé con con, ai nào biết mùi bánh Trung Thu ngọt ngào đến thế.

Năm nay Trung Thu mưa lớn, trẻ con trong khu phố có mấy đứa đến sớm, may mắn tránh được cái ướt át của cơn mưa, tôi đã đứng đấy từ cuối buổi chiều, cũng nhận ra cơn mưa đổ rào nhanh hơn chúng một chút. Mà, chờ mãi, chờ hoài, người chờ mà mưa không chịu dứt. Đêm an nhiên phủ tối lên cơn mưa chậm chạp, chậm chạp rơi. Mưa rơi cứ mỗi lúc một to, rơi như đang trút nước. Ông già mặc bộ áo xanh như đồ bệnh viện, cầm dù dắt thằng cháu nhỏ đi chơi Trung Thu. Thằng bé thấy bạn vội vàng chạy lại, bỏ ông loay hoay phía sau, thấp thỏm lo nó ốm. Mà, mưa nào có tránh kịp lưng ông dưới cây dù ngoặt nghẹo. Nhưng đừng có trách bọn trẻ, vì chúng ngây thơ nên mới phải lớn lên.

Tôi lại xếp cho ông cây dù, gửi ông miếng bánh Trung Thu mới cắt. Ông nhìn bọn trẻ đang ngồi buồn một góc. Chúng sợ năm nay không được xem múa lân, miệng nói vẩn nói vơ, mắt đăm đăm nhìn ông Trời như thể, ông ấy thấy mà cho cơn mưa thôi rơi vậy. Ông trông bọn trẻ cười hiền. Đêm Trung Thu mưa như trút nước, gió nặng nề kề hơi ấm bên nhau.

Mà cũng tại mưa Trung Thu hại tôi buồn vài cái buồn lặng. Ngày trước cứ vào những ngày này, đường phố sẽ rộn rã tiếng trống múa lân, những người mặc áo xanh áo đỏ, tiếng chiêng gõ đinh tai nhức óc, ông Địa mặt cười hề hề đi từng nhà quậy phá, kéo đoàn Lân đến dọa tôi đứng im thin thít. Ngày ấy tôi cứ núp núp sau lưng mẹ, nửa muốn xem nửa lại sợ bị trêu, lắm lúc còn òa lên khóc tức tưởi. Mẹ bế tôi lên, vẹo mũi tôi cưng cưng mấy cái. Nghĩ sao thấy mình ngô nghê, thấy mình sao thương cái ngô nghê ấy thế.

Tôi nhìn trời, nhìn làn khói trắng đỏng đảnh lơ lửng mãi không rơi. Tôi tìm lại cái vẻ đẹp của cái đêm mênh mang vô cùng huyền bí trong mắt tôi lúc ấy… Người ta bảo khi lớn lên thường hay đánh rơi thứ gì quan trọng và ngây thơ lắm, khi ấy tôi tưởng tôi luôn có cái quyền được vô tâm vô tư không dành cho người lớn. Cái thứ mà sau này sẽ bị đóng những lớp bụi dày và những tấm hình sẽ ố màu cũ kĩ. Bầu trời chỉ còn là một thứ cảm giác bâng khuâng xao xuyến, như bơ vơ, như tiếc nuối cho những ngày sau, ngày tôi bị tước mất quyền buộc phải làm người lớn.

Phở Lạ

“Phở Lạ, lạ ở chỗ nào hả cô chủ?”

Cô cười. “Lạ ở chỗ, phở không ngon mà người ta vẫn đến ăn.”

Người ta muốn ăn phở, chắc chẳng vào đến quán cô.

Cô chủ mới hai mươi bốn xuân thì, nuôi mười mấy đứa nhóc con con. Người ta hỏi trêu cô sao nhiều cháu thế? Cô cũng cười. Ai chẳng biết, hai mươi bốn cái xuân thì của cô đã dừng lại ở cái quán phở lạ mười ba ngàn một tô này rồi.

Mấy đứa nhóc, đứa bê phở, đứa bê nước, đứa khập khiễng mang cái ghế ra kê. Hễ thấy khách vào lại “Mẹ ơi khách”, nghe não lòng. Mà cô chủ lúc nào cũng cười, chẳng nói năng gì đi múc phở.

“Cô chủ, tuổi đời còn trẻ mà nuôi mấy đứa nhóc, không sợ ế hay sao?”

Ừ, cô chẳng sợ ế, chỉ sợ mấy đứa nhỏ không có chỗ nương tựa. Chúng mồ côi cả, giống như cô.

Cô chủ sống gần qua cái xuân nữa, mà yêu chỉ đủ mỗi cái thương từ đời nảo đời nào, ai biểu người ta ngại mười mấy đứa nhỏ, không nuôi. Người ta như vậy, cô cũng thôi. Mấy đứa nhỏ không có cô, chúng sống sao đặng. Người ta không có cô, người ta vẫn đi lấy vợ lâu rồi.

Cô cười.

Khóc nhiều quá rồi, khóc không nổi nữa, thì cười thôi.

Tụi nhỏ líu ríu, thấy mẹ cười liền nhe răng cười theo mẹ. Khách nhìn mà quên cả phở đang ăn.Phở cô chẳng lúc nào thôi khách, mà ngày ngày cũng chỉ đủ vài đồng bạc lẻ. Ai bảo, khách của cô nghèo, chẳng thể trả hết mười ba đồng bạc. Cô cũng cười, lắm lúc cũng chẳng nhận. Cô cứ cười, người ta thì ăn phở trả thiếu tiền. Cho nên xóm người ta cứ rỉ tai nhau: “Phở của cô ăn vào ấm lắm!”

“Có mười ba ngàn đồng mà no cả lòng.”

Bởi, phở dở mà khách cứ tấm tắc khen ngon. Chắc là vì có yêu thương mong nhớ tràn trề. Ăn vào lòng thấy ấm.
Phở lạ, lạ ở cái cười.

“Mẹ ơi khách.” Con nhỏ lon ton chạy đi rót nước, thằng bé đứng chờ, đợi bê tô phở. Mấy đứa thấy khách đứng dậy, lon ton chạy lại dọn bàn. Cô múc phở xong lại ôm đứa nhỏ ngồi cười.

Người ta cũng là khách mà, mặc kệ người ta ăn. Nhìn người ta như vầy, lòng cô sao cứ nao nao. Cô giả bộ hoài, chi vậy cô? Yêu vậy chi cho khổ.

Phải chi ngày xưa người ta đừng có ngại khó, mà chắc tại cô cứ khư khư giữ mấy đứa nhỏ, người ta đi.

Vậy sao giờ về chi vậy hả người ta?

Cái khóc đi một lần rồi, làm sao bảo cô cất vào được nữa.

Không lẽ muốn cô múc phở nhìn người ta ăn đến bạc đầu sao anh?

Trà Chiều

Chiều nắng, nắng vàng rực xuyên ngang những tán cây trĩu những hạt long lanh nhỏ xíu. Nền xi măng trước tiệm biến thành tấm thảm lốm đốm những vệt đen khó giặt, rồi lại cuốn theo điệu nhảy xinh đẹp của gió, từ lúc nào đã hòa mình tan theo màu gió nơi phố cổ, dịu dàng. Thử hỏi bao nhiêu người có thể nắm lại thời gian mà ngắm cái hương vị cổ kính nồng nàn giữa chốn Hà thành phủ kín những lo toan?

Hương trà thơm thoang thoảng, thêm vào cho nắng vàng vị thanh thanh, đăng đắng, hệt như một loại mật ong kì lạ, chỉ có thể nhìn, có thể ngửi nhưng không thể ăn.

“Thưa thầy, có trà rồi ạ.”

Con người cũng vậy, chỉ có thể quen, có thể thân, nhưng lại không thể gắn bó với nhau mãi mãi. Nhưng thầy và tôi hẳn là một trường hợp ngoại lệ.

Thầy nhấp một ngụm trà chiều, rồi đặt ly xuống. Ánh mắt thầy xa xăm, hệt như đang tìm kiếm một mảnh kí ức xa xôi nào đó. Gió làm quạt, quạt đi tóc thầy trắng xóa.

Thầy không phải là một thầy giáo, thầy cũng chưa từng đứng trên giảng đường hay tham gia bất kì tiết học nào. Người ta nói: “Một đầu bếp giỏi không vì nấu ăn ngon mà giỏi, mà vì anh ta biết quan tâm đến người thưởng thức món ăn.” Anh ta phải tỉ mỉ, cẩn thận, tinh tế, nhạy cảm và có con người trong tim. Thầy chỉ đơn giản là một người làm bánh, một người làm bánh với cả triệu tấm lòng.

Tôi sống với thầy từ bé. Tôi không nhớ khi nào, cũng không biết tại sao. Tôi chỉ đơn giản biết rằng mình sống với thầy, đó là điều may mắn. Lúc học mẫu giáo tôi thường hỏi thầy tại sao tôi không có mẹ đi đón như các bạn khác, thầy xoa đầu tôi bảo: “Bởi vì con rất ngoan nên mẹ con mới yên tâm giao con cho thầy.” Tôi cười tít mắt rồi nắm tay thầy cùng ra về.

Thầy không dạy tôi học chữ, cũng không giúp tôi làm bài tập, thầy rèn cho tôi tính tự lập từ bé, tất cả mọi việc trong khả năng của mình, tôi phải tự làm, mà còn phải làm cẩn thận và nhanh chóng.

Tất cả những gì thầy làm là đưa tôi đến trường và nuôi tôi từ lúc tôi còn bé xíu. Nếu là những đứa trẻ khác, ắt hẳn chúng sẽ nghĩ là thầy không thương chúng. Nhưng vì tôi là đứa trẻ dễ tính và nghe lời nên chưa bao giờ tôi suy nghĩ về chuyện đó. Lớn lên một chút, tôi mới ngộ nhận rằng: “Vì thầy là một người nghiêm khắc.”

Những lúc thầy làm bánh, tôi chỉ đứng một bên nhìn thầy với ánh mắt cực kì ngưỡng mộ. Thầy không như các bác vì họ thường rất không thích trẻ con đứng gần họ khi làm việc. Cho nên tôi luôn bám sát lấy thầy để không phải trở thành một “con bé rắc rối.” Thầy đi qua đi lại rất nhiều và nhanh, nhanh đến nỗi cứ chạy theo thầy một lúc là tôi chóng mặt, lại vấp chân va vào người lớn. Hôm thì bột dính đầy người, hôm thì đụng phải bác Hai làm đổ mẻ bánh. Bác Hai rất dữ, cứ mỗi lần như thế là bác lại quát tôi ngay, rồi sau đó lại cho tôi cục kẹo. Vậy nên cứ hễ bị mắng là tôi lại có kẹo ăn. Người lớn đúng thật là kì lạ, không như thầy, thầy hay cười khiến hai con mắt nheo lại và tạo thành rất nhiều vết nhăn.

Lên cấp hai, tôi lại hỏi thầy ba mẹ tôi như thế nào, thầy dẫn tôi vào bếp, bắt đầu từ đó, tôi gọi thầy là thầy. Cũng bắt đầu từ đó, tôi mới thực sự nhận ra rằng quá khứ chỉ là quá khứ, nhưng chỉ có quá khứ hạnh phúc mới khiến con người vui vẻ biến nó thành kỉ niệm, còn không thì tốt nhất là hãy tạo ra hạnh phúc khi còn có thể. Hạnh phúc của tôi là được làm bánh.

Vào đại học, tôi quyết định theo nghề của thầy, trở thành một đầu bếp thật giỏi.

Tôi nói với thầy như thế, thầy chỉ lắc đầu bảo tôi thầy không cần một đầu bếp giỏi.

Khi nghe thầy nói vậy, tôi chỉ thẫn thờ đứng bên bàn bếp và nhìn chiếc bánh dần chuyển thành màu đen. Tự hỏi mình: “Vậy thầy dạy tôi nấu ăn để làm gì?”

Vậy tôi học nấu ăn để làm gì?

Từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ, suy nghĩ rất nhiều, thắc mắc cũng rất nhiều, nhưng lần đầu tiên, tôi không dám nói với thầy tất cả những điều ấy. Tôi hoang mang.

Từ bé đến giờ, thầy chỉ dạy tôi nấu ăn. Vậy thầy dạy tôi nấu ăn để làm gì?

Khi quyết định điền giấy đăng kí nguyện vọng, tôi chọn ngành tâm lí học với một suy nghĩ đơn giản là tôi sẽ hiểu được thầy nhiều hơn, và cũng vì thầy không muốn tôi trở thành một đầu bếp giỏi.

Tôi là một đứa trẻ mười tám tuổi dễ tính và biết nghe lời.

Sống với thầy, thế giới của tôi vốn dĩ rất đơn giản: nấu ăn và tin vào một thế tươi đẹp bên ngoài nơi tôi sẽ bước đến. Và tôi tin rằng thầy sẽ hài lòng với lựa chọn của mình. Vậy mà khi nghe tin, thầy lặng lẽ thở dài. Cái thở dài của thầy, vừa sầu não, vừa tức giận. Thầy hỏi: “Khi nấu ăn con nghĩ đến ai?”

“Con nghĩ đến thầy, thầy luôn tự hào mỗi khi con làm xong một chiếc bánh, cho dù nó có tệ đến thế nào, thầy vẫn khen con. Vậy nên con đã rất cố gắng, và con luôn mong thầy lúc nào cũng cười tươi như thế. Nhưng mà con thật sự rất hoang mang, lí do gì thầy lại không muốn con trở thành một đầu bếp giỏi?” Tôi nức nở, thầy lại cười hiền như ông Bụt. “Một đầu bếp giỏi không vì nấu ăn ngon mà giỏi, mà vì anh ta biết quan tâm đến người thưởng thức món ăn. Nấu ăn cũng phải hiểu người thưởng thức, muốn hiểu người thưởng thức thì phải thấy cái đẹp của con người.”

Tôi nhận được học bổng sang Pháp du học. Ngày biết tin thầy rất mừng, tự tay vào bếp làm cho tôi một cái bánh gato kem thạch để chúc mừng, trong khi tôi phải tự dằn vặt bản thân mình. Sang Pháp là một cơ hội tốt để nâng cao tay nghề, nhưng tôi đi rồi đâu còn ai hiểu thầy hơn tôi, ai chăm sóc cho thầy khi thầy ốm… Tôi lo lắng như vậy mà thầy tỏ ra tức giận, mấy ngày liền không chịu gặp mặt tôi, kể cả đến giây phút cuối cùng khi tôi sắp không còn được gặp thầy mỗi ngày nữa.

Giận thầy, những bước chân nơi đất khách quê người lại khiến tôi đau lòng vì tội lỗi, nỗi nhớ thầy thấm ướt mèm cả hai đôi má. Vừa về đến chung cư, tôi vội gọi điện cho thầy, chỉ nửa hồi chuông đã nghe thấy tiếng thầy trong điện thoại, rồi lúc đó tôi mới sực nhớ ra ở Việt Nam đang là hai giờ sáng. Trong phòng le lói một ánh đèn vàng, thầy đau lưng lại ngồi lặng lẽ bên chiếc điện thoại… Cứ nghĩ đến hình ảnh đó tôi lại nức nở khóc. Thầy thở dài rồi cúp máy.

Còn tôi cứ dí chặt máy vào tai cho thỏa lệ.

Từ đó về sau, trước khi gọi tôi đều hỏi thăm mọi người, lặng lẽ khóc một mình rồi mới dám gọi cho thầy. Thầy bảo rằng chỉ cần nghe tiếng tôi khóc là biết tôi vẫn bình an, điện thoại quốc tế gọi nhiều sẽ rất tốn!

Ở Pháp, mùa đông tuyết rơi phủ trắng cả đôi ngói đỏ, ánh đèn vàng từ cây cột điện bên cạnh nhà hắt qua ô cửa sổ trắng muốt. Nhiều lúc tôi lại ngỡ rằng mình đã tự nguyện nhắm mắt đề được đi lạc vào thế giới thần tiên. Những ngày tuyết rơi, tôi một mình ngồi trong nhà, ôm lấy cái lò sưởi mà lòng ham muốn được bay nhảy trong lớp bột tuyết trắng ấy. “Nhiều lúc” như thế đã không thể giúp tôi kìm chế tham vọng, cũng không thể ngăn cản tôi thực hiện giấc mơ ngay cả khi đang ho sù sụ. Tôi như một quả bom chỉ chực chờ đám bạn cùng phòng châm ngòi là nổ. Vậy nên tôi có một tuần ngao du thế giới thần tiên của mình…trên giường bệnh.

Các bạn cùng phòng đều lên giảng đường, chỉ còn mình tôi lặng lẽ trùm chăn kín mít. Ngoài trời tuyết rơi càng dày đặc, hệt như có ai đang thả từng lớp bột để chúng bám lấy thời gian và bắt chúng đông lại, hành hạ tôi bằng sự nhàm chán. Những lúc như thế này tôi chỉ muốn gọi về cho thầy, báo cho thầy biết là tôi bên này bị ốm, muốn thầy bay qua đây nấu cháo cho tôi ăn. Dù biết là không thể nhưng ít ra tưởng tượng cũng là một việc để giết thời gian.

Điện thoại reo, tôi vội vàng tung chăn lao đến cái máy rồi lại lao trở về giường. Vừa bốc máy tôi đã ho liền một tràng dài, thầy ở đầu bên kia thở dài, trách tôi sao không đi bác sĩ. Tôi im lặng, không dám nói với thầy là tôi…tiếc tiền. Thầy lại thở dài: “Hệt như con bé ngày xưa vậy.” Tôi bất động một hồi, rồi húng hắng ho. Không hiểu sao khi thầy nhắc đến mẹ tôi lại có cảm giác ấm áp đến thế, cũng chẳng có một chút tò mò hay nuối tiếc. Chỉ vì tôi biết ba mẹ tôi ắt hẳn là những người tuyệt vời, vậy nên họ mới có thể trao tôi cho thầy nuôi dưỡng.

Bởi khi nhớ đến thầy đang ngồi ở nhà chờ tôi trở về, tôi biết tôi luôn có một gia đình.

“Quá khứ chỉ là quá khứ, nhưng chỉ có quá khứ hạnh phúc mới khiến con người vui vẻ biến nó thành kỉ niệm…” Tôi chính là quá khứ hạnh phúc của ba mẹ.

Ba ngày sau, thầy gửi tiền ra cho tôi, thêm chăn và một chiếc áo len.

Suốt cả cuộc đời, thầy không chỉ là một đầu bếp, mà còn là một người thầy, người cha. Thầy dạy tôi làm bánh, dạy tôi điều còn quan trọng hơn bất kì điều gì tôi được học: “Người ích kỉ không phải là người quan tâm đến mình quá nhiều, mà quan tâm đến người khác quá ít.”

Hai năm du học, tôi tốt nghiệp, nhanh hơn một năm so với các bạn cùng khóa.

Vừa đặt chân xuống Nội Bài đã được chứng kiến cảnh mưa Hà Nội, mưa đượm mùi đất và nắng ấm. Hóa ra những con người đi xa quê, khi trở về đều được đất mẹ ưu ái cho những yêu thương, lặng thầm da diết.

Tôi trở về nhà, vẫn là góc phố cũ, mái hiên xưa, chỉ khác nền xi măng lấm tấm những đốm đen khi trời trở nắng. Thầy tựa trên chiếc ghễ gỗ cũ kĩ, ngắm mưa và cái vị mật ong dịu dàng giữa buổi chiều Hà Nội. Tôi lặng lẽ vào nhà cất đồ rồi pha trà chiều.

Thầy vẫn giữ thói quen cũ, nhâm nhi thời gian khi đang tan vào ánh chiều của con phố cổ.

“Thưa thầy, có trà rồi ạ.”